Sử dụng máy tính xách tay sao cho tốt nhất

Dân gian có câu: “của bền tại người”, câu này có đúng với cách bạn sử dụng máy tính xách tay mới mua?

Việc bạn mới mua máy tính xách tay mà bạn không biết cách sử dụng và bảo quản sao cho đúng sẽ dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng làm giảm tuổi thọ của máy. Thậm chí do vô tình hay sơ ý, chiếc máy bạn mua sẽ không được nhà phân phối bảo hành cho bạn vì những lý do hết sức ngớ ngẩn, do thói quen không tốt hoặc do bạn không biết sử dụng như nào.

I. Bảo quản phần cứng

Vì vậy, để sử dụng máy tính xách tay sao cho bền nhất. Bạn hãy tuân thủ những lời khuyên nhỏ của chúng tôi. Đảm bảo rằng, máy của bạn sẽ là một con chiến mã giúp bạn đạt được những thành công trong học tập, trong công việc và trong cuộc sống

Ngay khi nhận bàn giao máy từ cửa hàng, bạn hãy kiểm tra lại các thông tin trên phiếu xuất kho, phiếu bảo hành và hóa đơn. Bạn kiểm tra xem tất cả thông tin trên giấy tờ (thông tin cá nhân của bạn, số serial, thông tin sản phẩm) có trùng khớp với thông tin trên sản phẩm nhân viên đó đang bàn giao cho bạn không? Nếu thấy sai sót hãy yêu cầu nhân viên đó in lại cho bạn những giấy tờ kia không nên để nhân viên đó ký vào vì điều đó không đảm bảo được quyền lợi cho bạn khi có những phát sinh xảy ra).

Ngoài ra bạn còn phải kiểm tra sản phẩm xem chúng có bị xướt, bị rạn vỡ hoặc trục trặc không. Tốt nhất khi đi mua máy, bạn hãy dẫn một người hiểu biết về máy tính để có thể tư vấn cho bạn mua được sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng, tránh sự lãng phí không cần thiết.

1. Sử dụng và bảo quản máy

- Bạn không nên để máy tính của mình ở gần nơi ẩm ướt hoặc bụi bẩn. Vì những bụi bẩn hoặc nước có thể làm giảm rất nhiều tuổi thọ của máy tính. Thậm chí máy có thể bị hỏng nếu dính nước hoặc máy có quá nhiều bụi bẩn bám vào quạt CPU.

- Không nên để nước, café hoặc nước đá gần máy của bạn. Rất có thể do vô tình bạn làm đổ cốc nước vào máy tính và “ôi thôi” máy của bạn sẽ “tử vong” do những hành động bất cẩn đó.

Khi máy bị vào nước, bạn hãy giữ cố định sự thăng bằng của máy và nhanh chóng nhờ người rút pin, rút Adapter ra. Rồi nghiêng máy để cho nước chảy ra hết, sau đó hãy mang máy đến những công ty sửa chữa máy tính xách tay yêu cầu nhân viên kỹ thuật tháo máy ra và sấy khô nó. Bạn không nên tự ý tháo máy vì trên máy tính có rất nhiều chi tiết khác nhau, nếu bạn không rành lắp ráp máy có thể dẫn đến trường hợp các khớp (cá) trên máy bị gãy. Ngoài ra các chi tiết không được lắp đúng vị trí nhất là bạn lắp ốc vít không đúng, chiếc ốc vít đó có thể xuyên thủng mainboard của máy và làm hỏng hoàn toàn nó.

Khi di chuyển máy, bạn hãy tắt máy tính đi và đảm bảo nó đã được tắt hoàn toàn bởi vì nếu không tắt máy mà di chuyển máy, đầu từ của ổ cứng sẽ có sự rung động tác động lên bề mặt đĩa. Nếu hỏng nhẹ ổ cứng có thể bị Bad Sector, còn nếu hỏng nặng bạn phải thay thế ổ cứng đó bằng một ổ cứng mới.

Không được để những vật nặng lên trên máy hoặc không được tỳ tay lên máy. Hành động đó của bạn có thể làm vỡ hỏng màn hình LCD.

Không nên sử dụng những đĩa quang (đĩa CD, đĩa DVD) kém chất lượng hoặc bề mặt đĩa đã quá xước. Ngoài ra nếu ổ đĩa quang của bạn là ổ ghi thì bạn cũng không nên ghi quá nhiều đĩa trên nó. Nếu phải ghi nhiều đĩa liên tục, khi ghi xong một đĩa bạn hãy cho ổ đĩa nghỉ chừng 15 phút để ổ đĩa giảm nhiệt đi sau đó mới tiếp tục ghi đĩa tiếp theo.

Khi đi công tác xa mà phải mang theo máy tính xách tay. Bạn hãy cho máy vào một túi chống xốc và để riêng nó vào một ngăn, nên kiểm tra và đảm bảo nó được an toàn khi để vào ngăn đó. Một điều quan trọng nữa bạn nên nhớ là hãy để những vật cứng như chuột, Adapter, đồ mỹ phẩm… tránh xa ngăn để máy tính xách tay. Vì trong quá trình di chuyển, những vật cứng đó có thể va đập làm hỏng màn hình của máy.

Khi sử dụng máy ở nơi công cộng như lớp học, văn phòng làm việc, sân bay, nhà trọ sinh viên… Bạn hãy sử dụng một khóa laptop để khóa máy tính lại tránh trường hợp máy của bạn bị kẻ gian lấy. Mỗi máy đều có một khe nhỏ để bạn có thể khóa nó vào một vật bất kỳ như chân bàn hoặc chân ghế (những vật bạn cho rằng nó đảm bảo sự an toàn cho máy tính).

Khi sử dụng máy ở nhà, bạn không nên để máy trên giường đệm, bởi vì những khe thoát khí trên máy có thể bị che đi làm cho nhiệt lượng không được tỏa ra. Từ đó máy dễ sinh ra những bệnh “kỳ quái” như hay treo, tự tắt, chạy không ổn định… Ngoài ra những sợi bông nhỏ trên giường của bạn có thể bị hút vào những khe đó và bám và tấm tản nhiệt CPU, lâu ngày nếu không vệ sinh sẽ dẫn đến tình trạng “kỳ quái” như trên.

Khi để máy trên bàn bạn hãy tạo một khoảng trống giữa máy và mặt bàn để cho việc tản nhiệt của máy được tốt hơn. Tốt nhất nếu có thể bạn hãy mua một cái Dock làm mát cho laptop, trên cái Dock có đầy đủ chức năng cần thiết để máy tính của bạn hoạt động mát mẻ và ổn định nhất.

2. Sử dụng và bảo quản pin

- Việc sạc pin và xả pin có thể định nghĩa như sau:

  • sạc pin: là thao tác máy tính xách tay được gắn nguồn điện (Adapter). Việc bạn bật máy hay không bật máy đều được định nghĩa là quá trình sạc pin.
  • Xả pin: Là thao tác máy tính xách tay sử dụng năng lượng điện từ pin gắn trên máy.

- Ngay khi mua máy về bạn hãy sạc pin theo hướng dẫn dưới đây:

  • Sạc lần 1: Thời gian sạc từ 8 giờ đến 12 giờ tùy thuộc vào số lượng cell (dung lượng pin). Sau khi sạc bạn hãy tháo Adapter ra và sử dụng bằng nguồn điện từ Pin của máy (quá trình xả pin). Nên nhớ là sử dụng hết đến khi hệ điều hành báo cho bạn biết pin đã sắp hết, bạn phải gắn Adapter vào. Khi đó bạn hãy gắn Adapter vào và tiếp tục quá trình sạc pin lần 2.
  • Sạc lần 2, lần 3: Tương tự như sạc lần 1.

- Trong quá trình sử dụng sau này, bạn hãy theo hướng dẫn dưới đây:

  • Không nên gắn Adapter vào máy liên tục một cách thường xuyên (quá 10 giờ), tốt nhất khi Pin đã đầy hệ điều hành báo tình trạng pin là 100%) bạn nên rút nguồn điện ra và sử dụng bằng năng lượng từ Pin. Việc gắn nguồn điện liên tục vào máy có thể dẫn đến tình trạng pin của máy bị trai (tức thời gian sử dụng Pin giảm xuống so với ban đầu lúc bạn mới mua máy).
  • Mỗi một tuần, bạn nên xả pin ít nhất là bốn (04) lần để tránh tình trạng Pin bị giảm dung lượng theo thời gian sử dụng.
  • Khi gắn pin vào máy, nhớ cài tất cả những chốt cố định máy và pin. Nếu bạn không gắn chặt pin vào khe sẽ dẫn đến tình trạng các điểm tiếp xúc của nguồn điện giữa pin và máy chập chờn gây những hỏng hóc không đáng có.
  • Dung lượng pin sẽ giảm theo thời gian sử dụng và điều này là hoàn toàn bình thường.
  • Khi bạn so sánh dung lượng pin và thời gian sử dụng giữa hai máy giống nhau. Bạn phải xem xét hệ điều hành hai máy bạn đem ra so sánh có giống nhau không. Vì mỗi hệ điều hành sẽ tiêu tốn thời lượng pin là khách nhau. Ví dụ: máy của bạn mới mua cài Windows XP thời gian sử dụng pin là 3 giờ, nhưng khi bạn cài hệ điều hành Windows Vista chắc chắn rằng thời lượng pin bạn có thể sử dụng giảm 25% trở lên. Tức là thời gian dùng pin của bạn chỉ còn 2 giờ.
  • Nếu pin của bạn bị trai hoặc hỏng, bạn có thể sửa pin ở các trung tâm sửa chữa máy tính. Giá thành sửa chữa một pin tùy thuộc vào loại máy bạn đang sử dụng, từ 20$ đến 35$. Còn nếu bạn dư giả về tài chính, bạn có thể mua một Pin khác với giá từ 45$ đến 90$ tùy thuộc vào loại máy bạn đang sử dụng và tùy thuộc và loại pin (số cell quyết định giá thành của pin, pin càng nhiều cell giá càng cao) mà bạn muốn mua.
  • Khi bạn đi công tác xa, bạn hãy sạc đầy pin cho máy tính của mình và nên nhớ thật kỹ phải mang theo cả bộ nguồn (Adapter) nữa.
  • Khi bạn đang gắn nguồn và rút dây nguồn ra để sử dụng năng lượng từ pin. Độ sáng màn hình máy tính của bạn sẽ giảm xuống mức thấp. Điều này là hoàn toàn bình thường bởi vì các nhà sản xuất đã lập trình như vậy, bạn có thể tăng độ sáng của màn hình bằng các phím chức năng trên máy. Thông thường bạn sử dụng phím Funtion – Một nút điều khiển chức năng chỉnh độ sáng.
  • Khi bạn sử dụng máy tính đang dùng nguồn điện từ pin gắn trên máy. Bạn nên biết màn hình là nơi sẽ ngốn nhiều năng lượng từ pin của bạn nhất. Bạn hãy dùng các phím chức năng để giảm cường độ sáng của màn hình xuống. Việc này có thể tiết kiệm tối đa thời gian dùng pin trên máy tính của bạn.
  • Khi đang dùng pin, nếu bạn không sử dụng Wifi để kết nối Internet. Bạn hãy tắt chức năng Wifi của máy đi! Chức năng Wifi của máy cũng là một thành phần ngốn rất nhiều năng lượng từ pin bạn đang dùng.

3. Sử dụng nguồn điện (Adapter)

- Luôn sử dụng bộ chuyển đổi nguồn (Adapter) đi kèm theo máy. Không nên dùng những bộ Adapter không rõ xuất sứ, không rõ điện áp và không rõ dòng điện ra. Vì việc sử dụng nguồn điện không tốt có thể dẫn đến việc máy chạy chập chờn, pin nhanh hỏng và thậm chí làm hỏng mạch điện của máy dẫn đến máy không hoạt động được.

- Không nên để nguồn điện trên mặt đất hoặc chỗ mọi người hay đi lại. Bởi vì nếu có người nào đó vô tình vấp phải dây dẫn điện sẽ kéo máy tính của bạn rơi từ trên bàn xuống đất. Hỏng nhẹ thì trày xước, hỏng nặng thì màn hình sẽ bị vỡ sau cú va chạm đó.

- Không nên để nguồn điện của máy ở gần nơi ẩm ướt. Bởi vì Adapter của máy có thể bị vào nước, các linh kiện bị oxi hóa dẫn đến hỏng Adapter.

- Không nên gắn đầu cắm nguồn vào những ổ cắm không đảm bảo an toàn và chất lượng. Vì khi gắn đầu cắm nguồn vào ổ cắm mà sự tiếp xúc không tốt có thể dẫn đến tình trạng nguồn vào máy chập chờn gây hỏng Adapter và hỏng máy tính.

- Khi đi công tác xa bạn không nên để Adapter cùng với ngăn chứa máy tính. Vì trong quá trình di chuyển Adapter có thể va đập vào máy. Nếu nhẹ thì máy bị trày hoặc xước, còn nặng thì có thể dẫn đến màn hình bị vỡ và chi phí bạn phải bỏ ra khi thay màn hình là không nhỏ (khoảng 150$ tới 250$ tùy từng loại máy). Ngoài ra, khi đi công tác xa. Bạn hãy mang theo đầu chuyển jac nguồn đa năng để tránh trường hợp những nơi bạn tới phích điện của bạn không gắn vừa ổ điện đó. Ngoài ra bạn cần mang theo một Cable mạng dài khoảng 2 mét và một dây cable điện thoại phòng trường hợp muốn kết nối Internet mà không có cable mạng.

- Không để Adapter gần những vật có từ trường lớn. Vì mạch điện của Adapter có thể bị hỏng do tác dụng của điện trường sinh ra từ các vật dụng ở gần.

- Khi bạn sử dụng Adapter, việc Adapter nóng lên và hơi ấm là hoàn toàn bình thường. Bạn không cần phải lo lắng vì điều này.

- Khi bạn thấy Adapter nóng lên một cách không bình thường hoặc quá nóng. Bạn hãy rút ngay nguồn điện ra và tắt máy đi. Lấy một chiếc đồng hồ kiểm tra lại điện áp ra của nó, nếu điện áp ra đủ bạn mới nên sử dụng lại. Nếu không đủ điện áp ra, bạn hãy bỏ nó đi và mua một Adapter khác.

- Nếu Adapter của bạn bị hỏng, bạn không nên sửa chữa nó mà hãy mua một Adapter mới khác. Vì Adapter hỏng là do linh kiện đã bị lão hóa hoặc có lỗi trong việc sử dụng. Nên tốt nhất là bỏ nó đi và mua một cái mới (giá của Adapter mới rất rẻ so với giá thành của máy 15$ đến 25$ tùy thuộc từng loại khác nhau)

II. Sử dụng phần mềm

Ngoài việc sử dụng phần cứng sao cho đúng để máy hoạt động ổn định hơn thì việc sử dụng phần mềm như thế nào cũng đóng vai trò quyết định cho sự thành công trong công việc của bạn. Dưới đây tôi xin trình bày những kinh nghiệm cá nhân về sử dụng máy tính (phần mềm) để bạn tham khảo:

1. Bảo mật tránh tình trạng thất thoát dữ liệu

Bạn hãy đặt password cho máy tính của mình để tránh trường hợp người khác truy cập vào máy tính và sử dụng không được sự cho phép của bạn. Việc đặt password còn giúp cho những người trong mạng nội bộ không thể truy cập vào máy của bạn để lấy đi những dữ liệu quan trọng trong máy tính.

2. Những nguyên tắc khi sử dụng máy tính và cách sử dụng chương trình diệt virus

a. Những nguyên tắc khi sử dụng máy tính

- Không truy cập vào những trang web đen, những trang web này có thể là nguồn lây nhiễm virus gây ảnh hưởng đến máy tính của bạn cũng như các dữ liệu trên máy.

- Không gắn những thiết bị lưu trữ mà bạn chưa chắc chắn sạch virus vào máy tính của mình. Vì những thiết bị đó là nguồn lây nhiễm virus chủ yếu. Khi gắn USB Flash vào máy tính, để an toàn bạn không nên click đúp vào biểu tượng USB Flash. Bạn nên mở USB Flash bằng chương trinh Explorer nhưng duyệt file theo dạng cây thư mục.

- Không để cho người khác tùy tiện sử dụng máy tính cá nhân của bạn. Nếu là máy dùng chung nhiều người, bạn hãy tạo nhiều user khác nhau và phân quyền cho những người đó sử dụng.

- Sử dụng nguyên tắc phòng hơn tránh để giảm thiểu thiệt hại có thể xảy ra.

- Không truy cập vào những trang web đen, những trang web này có thể là nguồn lây nhiễm virus gây ảnh hưởng đến máy tính của bạn cũng như các dữ liệu trên máy.

- Không gắn những thiết bị lưu trữ mà bạn chưa chắc chắn sạch virus vào máy tính của mình. Vì những thiết bị đó là nguồn lây nhiễm virus chủ yếu. Khi gắn USB Flash vào máy tính, để an toàn bạn không nên click đúp vào biểu tượng USB Flash. Bạn nên mở USB Flash bằng chương trinh Explorer nhưng duyệt file theo dạng cây thư mục.

- Không để cho người khác tùy tiện sử dụng máy tính cá nhân của bạn. Nếu là máy dùng chung nhiều người, bạn hãy tạo nhiều user khác nhau và phân quyền cho những người đó sử dụng.

- Sử dụng nguyên tắc phòng hơn tránh để giảm thiểu thiệt hại có thể xảy ra.

b. Sử dụng chương trình diệt virus

- Tìm kiếm một chương trình phòng tránh và diệt virus hiệu quả. Trên thế giới có rất nhiều hãng phát triển phần mềm phòng tránh và diệt virus. Bạn hãy chọn một phần mềm bạn cho là hiệu quả và sử dụng thêm một chương trình tường lửa khác để bảo về máy tính của mình từ bên trong cũng như bên ngoài.

- Virus mỗi ngày một nhiều, mỗi ngày một đổi mới. Do vậy việc thường xuyên cập nhật những bản update virus cho phần mềm diệt virus là một cách làm hiệu quả để máy tính hoạt động ổn định.

III. Bảo trì và vệ sinh

1. Vệ sinh máy

- Có một bài báo trên Internet đã nói rằng “bàn phím máy tính xách tay của bạn bẩn hơn bồn cầu của nhà vệ sinh” theo bạn đó có phải là sự thật không? Theo quan điểm của tôi, máy tính xách tay luôn là một người bạn thân thiết gắn bó với mọi hoạt động của mình. Việc chăm sóc cho nó giống như việc bạn tôn trọng người bạn của mình vậy. Nếu người bạn đó khỏe mạnh mới có thể giúp đỡ được mình mọi lúc, mọi nơi.

- Đầu tiên để việc chăm sóc người bạn của mình một cách tốt nhất, bạn hãy mua một bộ vệ sinh laptop. Giá thành của bộ vệ sinh laptop không cao, từ 50.000 VND đến 200.000 VND tùy từng loại. Trong bộ vệ sinh bạn mua sẽ có đầy đủ dụng cụ cần thiết để bạn có thể chăm sóc cho người bạn của mình một cách tốt nhất. Những dụng cụ đó bao gồm:

  • Bộ dung dịch làm sạch màn hình: là dung dịch dùng để vệ sinh màn hình và thâm máy.
  • Chổi quét bụi: là dụng cụ quét sạch bụi trên máy, trong các khe nhỏ.
  • Bóng thổi bụi: là dụng cụ dùng sức mạnh của hơi làm sạch bụi bẩn.
  • Khăn mềm: là dụng cụ lau hữu hiệu cho máy của bạn.

- Tiếp theo bạn hãy lên lịch làm sạch cho người bạn của mình. Với môi trường ở việt nam (nóng, ẩm, bụi…) thời gian vệ sinh máy là 3 ngày/ 1 lần là tốt nhất.

- Bạn hãy tắt máy tính đi rồi mới tiến hành công việc vệ sinh. Sau đó dùng chổi và bóng thổi bụi để vệ sinh máy một cách cơ bản trước đã. Đặc biệt lưu ý các vùng như bàn phím và các khe hở dưới bàn phím.

- Khi vệ sinh bạn không nên xịt trực tiếp dung dịch làm sạch lên máy. Bạn hãy xịt dung dịch đó vào khăn mềm rồi mới tiến hành lau trên màn hình, lau trên thân máy.

2. Bảo trì máy

- Trong thời gian bảo hành, việc bảo trì máy tính của bạn chỉ giới hạn ở khâu vệ sinh máy. Thực ra công việc bảo trì máy gồm rất nhiều công đoạn, cụ thể như sau:

  • Phần cứng: vệ sinh bên ngoài, vệ sinh bên trong (đặc biệt là các khe tản nhiệt cho CPU, máy tính của bạn chạy chậm, nóng, hay treo thường xuất phát từ việc bụi bám quá nhiều vào các khe tản nhiệt của CPU này). Việc vệ sinh phần cứng bên trong không nên làm nếu máy của bạn vẫn trong thời hạn bảo hành.
  • Phần mềm: Kiểm tra lỗi hệ thống, nếu cần thiết đôi khi phải cài đặt lại hệ điều hành. Sau đó kiểm tra dữ liệu cài đặt phần mềm diệt virus và quét virus.

IV. Bảo hành

Nếu do không may mắn, máy tính của bạn bị bệnh. Bạn phải mang máy tính của mình đi bảo hành, bạn hãy đọc những lời khuyên dưới đây để tránh những trường hợp xấu (ngoài ý muốn) xảy ra với bạn.

1. Công việc phải làm trước khi đem máy đi bảo hành

- Bạn hãy sao lưu (backup) tất cả dữ liệu trên máy vào một ổ cứng gắn ngoài hoặc một máy tính khác. Những dữ liệu của bạn sẽ không được đảm bảo khi bạn mang đến các trung tâm bảo hành. Nếu có sự mất mát dữ liệu thì chính bạn là người phải lãnh lấy hậu quả đầu tiên vì vậy câu “cẩn tắc vô áy náy” hoàn toàn đúng trong trường hợp này.

- Vệ sinh máy thật sạch trước khi đem đến các trung tâm bảo hành. Bởi vì, những người kỹ thuật không muốn làm trên những máy quá dơ bẩn. Ngoài ra, việc để máy quá dơ bẩn có thể là một lý do khiến các trung tâm bảo hành không nhận bảo hành cho máy của bạn.

- Bạn hãy chuẩn bị tất cả những giấy tờ, những phụ kiện cần thiết cho việc đi bảo hành máy. Hãy tưởng tượng khi bạn đến các trung tâm bảo hành, những nhân viên ở đó không chịu nhận bảo hành cho bạn do bạn thiếu những giấy tờ cần thiết. Bạn phải đi về lấy chúng, thật là mất thời gian đúng không?

- Trước khi mang máy đi bảo hành, bạn hãy cầm phiếu bảo hành lên và đọc kỹ mọi điều khoản (điều kiện) trên phiếu bảo hành. Sau đó xem xét lại máy của mình và đưa ra sự so sánh đánh giá điều kiện bảo hành với lỗi mà máy của bạn đang bị. Nếu những lỗi đó đáp ứng được điều kiện bảo hành thì bạn hãy tiếp tục đi. Nhưng nếu lỗi đó không trong điều kiện bảo hành, bạn hãy chuyển bị trước những tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Hãy vui vẻ chấp nhận những điều đó!

2. Khi mang máy đến trung tâm bảo hành

- Thông báo rõ tình trạng lỗi của máy với nhân viên kỹ thuật, nếu được bạn hãy liệt kê ra một tờ giấy và dán lên máy.

- Bạn yêu cầu nhân viên kỹ thuật kiểm tra lại máy và thông báo rõ tình trạng lỗi của máy, thời gian được nhận lại máy.

- Kiểm tra kỹ các thông tin trên phiếu nhận bảo hành của trung tâm bảo hành và quan trọng hơn nữa là giữ phiếu bảo hành đó thật kỹ hoặc để vào một nơi an toàn tránh thất lạc.

3. Khi bạn nhận bàn giao máy bảo hành

- Gọi điện đến trung tâm bảo hành hỏi tình trạng của sản phẩm bạn gửi bảo hành trước khi qua lấy máy tránh tình trạng qua các trung tâm bảo hành bạn phải chờ đợi, xấu hơn nữa nhân viên ở đó trả lời bạn “sản phẩm anh chị gửi bảo hành chưa được!”

- Kiểm tra kỹ tình trạng của máy khi nhận máy.

- So sánh lại các thông tin trên phiếu nhận với thông tin hiện tại của máy:

  • Thông tin kỹ thuật sản phẩm ( Model của sản phẩm ) .
  • Thông tin về số serial.

V. Sửa chữa

1. Tìm kiếm nơi sửa chữa máy tính xách tay uy tín

- Khi máy tính của bạn gặp sự cố, mà thời hạn bảo hành của sản phẩm đã hết. Đầu tiên bạn hãy mang máy tính đến các trung tâm bảo hành để yêu cầu sự trợ giúp từ những nơi đó, có thể họ sẽ giúp bạn khắc phục những lỗi đó giúp bạn hoặc họ tư vấn cho bạn những địa chỉ đáng tin cậy để có thể khắc phục những lỗi đang xảy ra.

- Hỏi người thân hoặc bạn bè hiểu biết về nghành công nghệ thông tin xem nơi nào sửa chữa nhiều kinh nghiệm và uy tín. Tiếp theo bạn hãy đặt ra những câu hỏi để có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc đi sửa chữa máy.

- Đánh giá một vài cơ sở sửa chữa mà những người thân của bạn đã cho hoặc những trung tâm bảo hành đã giới thiệu. Trường hợp này bạn phải đánh giá hai thứ:

  • Kinh nghiệm và trình độ sửa chữa.
  • Uy tín của nơi đó: họ có hay “luộc” đồ không? họ chăm sóc có tốt không?…

2. Cách tốt nhất để bạn làm việc với những cơ sở sửa chữa đó

Tôi xin trình bày một vài kinh nghiệm của mình về nghề sửa chữa máy tính xách tay. Từ đó bạn có thể học hỏi tránh được những sai lầm không đáng có và giảm thiểu mức độ thiệt hại / số lần đi sửa chữa.

- Trước khi đem đi sửa bạn hãy đánh dấu những thiết bị trên máy hoặc ghi lại số serial của máy lại. Sau đó bạn lưu lại toàn bộ dữ liệu (backup) trên máy vào một ổ cứng hay vào một máy khác. Tránh trường hợp do sơ ý nhân viên kỹ thuật ở công ty sửa chữa xóa hết dữ liệu của bạn đi.

- Khi nhận bàn giao máy, bạn hãy mượn một chiếc bút dạ và ký đầy đủ vào những thiết bị trên máy. Ví dụ: bạn ký vào màn hình, vào RAM, vào HDD, lên main, vào ổ đĩa quang …

- Sau khi làm giấy tờ nhận bàn giao máy, bạn hãy kiểm tra so sánh lại tất cả các thông tin trên phiếu có đúng với thông tin trên máy không? Bạn nên yêu cầu nhân viên nhận máy ghi đầy đủ chi tiết số serial của từng thiết bị để tránh những vấn đề phát sinh không mong muốn giữa hai bên.

- Bạn nên để máy và tất cả những thiết bị trên máy như HDD, RAM, CD ROM lại dù người đó muốn trả lại để bạn cầm về. Vì ngoài việc kiểm tra sự cố chính ra, nếu bạn để tất cả những linh kiện còn lại ở lại thì nhân viên kỹ thuật có thể kiểm tra toàn diện hơn tránh việc bạn phải đi lại nhiều lần.

- Nên sử dụng điện thoại để giao dịch với bên sửa chữa về các thông tin như tình trạng của máy, giá thành khắc phục và thời gian khắc phục. Ngoài ra trước khi qua lấy máy bạn nên gọi điện trước cho bên sửa chữa để tránh tình trạng bạn qua đó mà máy chưa làm xong gây mất thời gian đi lại.

- Khi nhận máy cần kiểm tra và so sánh tất cả những thông tin trên phiếu, trên máy và những điểm bạn đã đánh dấu. Kiểm tra kỹ tình trạng của máy tại cửa hàng, vì theo lý khi bạn đã đi ra cửa hàng rồi thì những nơi sửa chữa không chịu trách nhiệm về máy của bạn. Vì vậy nếu có trường hợp phát sinh khi đó bạn là người sẽ chịu thiệt đầu tiên, bạn chỉ mong chờ vào sự uy tín của cửa hàng lúc này thôi.

- Một lời khuyên căn bản: “khi đi sửa chữa hoặc mua bán bất kỳ thứ gì, bạn hãy thật sự thoái mái. Có thể bạn soi xét kỹ nhưng bạn hãy soi xét với tâm trạng thực sự thoải mái”. Theo kinh nghiệm của cá nhân tôi: những người càng không thoải mái trong vấn đề mua bán thì càng gặp nhiều trục trặc phát sinh không mong muốn sau đó từ những sản phẩm và dịch vụ mình đã mua (sử dụng).

Theo quantrimang

Published in: on February 14, 2009 at 4:36 am  Leave a Comment  

Cách Setup BIOS

Cách Setup BIOS
Khi khởi động máy lần đầu tiên, máy tính sẽ đọc một tập hợp dữ liệu được lưu trong CMOS (một chip bộ nhớ đặc biệt luôn hoạt động nhờ 1 cục pin nhỏ), không có thông tin nầy máy tính sẽ bị tê liệt. Việc xác lập các thông tin nầy gọi là Setup Bios và bao giờ người bán cũng phải làm thủ tục Setup Bios ngay sau khi ráp máy. Nhưng bạn cũng phải biết cách Setup Bios để đề phòng trường hợp máy tự mất các thông tin lưu trong Bios vì các lý do như: Hết pin, nhiễu điện, virus…Hiện nay, người ta dùng Flash Ram để lưu thông tin Bios nên không cần phải có Pin nuôi trên mainboard. Tùy Mainboard, các mục trong Bios có thể khác nhau theo từng hãng chế tạo (Award, Ami, Pheonix…) nhưng về căn bản chúng vẫn giống nhau và trong phần nầy chủ yếu bàn về căn bản, còn các tính năng riêng bạn phải chịu khó tìm hiểu thêm nhờ vào các kiến thức căn bản nầy.
Màn hình Bios Setup đa số là màn hình chạy ở chế độ TEXT. Gần đây đang phát triển loại BiosWin (Ami) có màn hình Setup gồm nhiều cửa sổ giống tương tự Windows và sử dụng được Mouse trong khi Setup nhưng các mục vẫn không thay đổi.
Chú ý thao tác để vào Bios Setup là: Bấm phím Del khi mới khởi động máy đối với máy Ðài Loan. Ðối với các máy Mỹ, thường là bạn phải thông qua chương trình quản lý máy riêng của từng hãng nếu muốn thay đổi các thông số của Bios.
* Bios thường: Di chuyển vệt sáng để lựa chọn mục bằng các phím mũi tên. Thay đổi giá trị của mục đang Set bằng 2 phím Page Up và Page Dn. Sau đó nhấn phím Esc để thoát khỏi mục (giá trị mới sẽ được lưu trữ). Nhấn F10 để thoát Setup Bios nếu muốn lưu các thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để lưu, N để không lưu. Nhấn Esc nếu muốn thoát mà không lưu thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để không lưu, N để trở lại màn hình Setup Bios.
* Bios Win: Màn hình Setup xuất hiện dưới dạng đồ họa gồm nhiều cửa sổ, sử dụng được mouse nếu bạn có mouse loại: PS/2 mouse, Microsoft mouse, Serial mouse, Logitect C mouse. Dùng mouse bấm kép vào cửa sổ để mở một thành phần, bấm vào mục cần thay đổi, một cửa sổ liệt kê giá trị xuất hiện, bấm vào giá trị muốn chọn rồi thoát bằng cách bấm vào ô nhỏ ở góc trên bên trái. Nếu không có mouse, dùng các phím mũi tên để di chuyển, đến mục cần thay đổi bấm Enter, xuất hiện hộp liệt kê, chọn giá trị mới, bấm Enter, cuối cùng bấm Esc.
1. Setup các thành phần căn bản (Standard CMOS Setup):
Ðây là các thành phần cơ bản mà Bios trên tất cả các loại máy PC phải biết để quản lý và điều khiển chúng.
* Ngày, giờ (Date/Day/Time):
Bạn khai báo ngày tháng năm vào mục nầy. Khai báo nầy sẽ được máy tính xem là thông tin gốc và sẽ bắt đầu tính từ đây trở đi. Các thông tin về ngày giờ được sử dụng khi các bạn tạo hay thao tác với các tập tin, thư mục. Có chương trình khi chạy cũng cần thông tin nầy, thí dụ để báo cho bạn cập nhật khi quá hạn, chấm dứt hoạt động khi đến ngày quy định…Bình thường bạn Set sai hay không Set cũng chẳng nh hưởng gì đến hoạt động của máy. Các thông tin nầy có thể sửa chữa trực tiếp ngoài Dos bằng 2 lịnh Date và Time, hay bằng Control Panel của Windows mà không cần vào Bios Setup.
Chú ý: Ðồng hồ máy tính luôn luôn chạy chậm khong vài giây/ngày, thỉnh thoảng bạn nên chỉnh lại giờ cho đúng. Nhưng nếu quá chậm là có vấn đề cần phải thay mainboard.
* ổ đĩa mềm (Drive A/B):
Khai báo loại ổ đĩa cho ổ A và ổ B, bạn căn cứ vào việc nối dây cho ổ đĩa để xác định. ổ đĩa nối với đầu nối ngoài cùng của dây nối là ổ A, ổ kia là B. ổ có kích thước lớn là 1.2M 5.25 inch, ổ nhỏ là 1.44M 3.5 inch. Nếu không có thì chọn Not Installed. Nếu bạn khai báo sai, ổ đĩa sẽ không hoạt động chớ không hư hỏng gì, bạn chỉ cần khai báo lại. Trong các mainboard sử dụng Bios đời mới, khai báo sai loại ổ dĩa 1.2Mb thành 1.4Mb hay ngược lại, ổ dĩa vẫn hoạt động bình thường nhưng kêu rất lớn lúc mới bắt đầu đọc đĩa, về lâu dài có thể hư đĩa.
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép bạn tráo đổi 2 ổ đĩa mềm mà không cần tráo đổi dây (swap floppy drive), tức là ổ A thành ổ B và ngược lại khi sử dụng. Khi tráo đổi bằng cách Set jumper trên card I/O, bạn nhớ khai báo lại trong Bios Setup (Khi tráo bằng lịnh Swap trong Bios thì không cần khai báo lại), nhưng có ứng dụng không chịu cài đặt khi Swap đĩa mềm, nhất là các ứng dụng có bảo vệ chống sao chép.
* ổ đĩa cứng (Drive C/D) loại IDE:
Phần khai báo ổ đĩa cứng rắc rối hơn, bắt buộc bạn phải khai báo chi tiết các thông số, bạn khai báo sai không những ổ cứng không hoạt động mà đôi khi còn làm hư ổ cứng nếu bạn khai báo quá dung lượng thật sự của ổ cứng và cho tiến hành FDISK, FORMAT theo dung lượng sai nầy. May mắn là các Bios sau nầy đều có phần dò tìm thông số ổ cứng IDE tự động (IDE HDD auto detection) nên các bạn khỏi mắc công nhớ khi sử dụng ổ đĩa cứng loại IDE. Chúng tôi sẽ nói về phần auto detect nầy sau. Ngoài ra, các ổ cứng sau nầy đều có ghi thông số trên nhãn dán trên mặt. Bạn cho chạy Auto detect, Bios sẽ tự động điền các thông số nầy dùm bạn. Việc khai báo ổ cứng C và D đòi hỏi phải đúng với việc Set các jumper trên 2 ổ cứng. Bạn xác lập ổ cứng không phải qua đầu nối dây mà bằng các jumper trên mạch điều khiển ổ cứng. Các ổ cứng đời mới chỉ có một jumper 3 vị trí: ổ duy nhất, ổ Master (ổ C), ổ Slave (ổ D) và có ghi rõ cách Set trên nhãn. Các ổ đĩa cứng đời cũ nhiều jumper hơn nên nếu không có tài liệu hướng dẫn là rắc rối, phải mò mẫm rất lâu.
* ổ đĩa cứng (Drive E/F) loại IDE:
Các Bios và các card I/O đời mới cho phép gắn 4 ổ dĩa cứng, vì hiện nay các ổ dĩa CDROM cũng sử dụng đầu nối ổ cứng để hoạt động, gọi là CDROM Interface IDE (giao diện đĩa IDE) để đơn giản việc lắp đặt.
Chú ý: Khai báo là NONE trong Bios Setup cho ổ đĩa CD-ROM.
* Màn hình (Video) – Primary Display:
EGA/VGA: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu EGA hay VGA, Super VGA.
CGA 40/CGA 80: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu CGA 40 cột hay CGA 80 cột.
Mono: Dành cho loại màn hình sử dụng card trắng đen, kể c card VGA khi dùng màn hình trắng đen.
* Treo máy nếu phát hiện lỗi khi khởi động (Error Halt):
Tất cả lỗi (All error): Treo máy khi phát hiện bất cứ lỗi nào trong quá trình kiểm tra máy, bạn không nên chọn mục nầy vì Bios sẽ treo máy khi gặp lỗi đầu tiên nên bạn không thể biết các lỗi khác, nếu có.
Bỏ qua lỗi của Keyboard (All, But Keyboard): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của bàn phím.
Bỏ qua lỗi đĩa (All, But Diskette): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của đĩa.
Bỏ qua lỗi đĩa và bàn phím (All, But Disk/Key): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của ổ đĩa và bàn phím.
Không treo máy khi có lỗi (No error): Tiến hành quá trình kiểm tra máy cho đến khi hoàn tất dù phát hiện bất cứ lỗi gì. Bạn nên chọn mục nầy để biết máy bị trục trặc ở bộ phận nào mà có phương hướng giải quyết.
* Keyboard:
Install: Cho kiểm tra bàn phím trong quá trình khởi động, thông báo trên màn hình nếu bàn phím có lỗi.
Not Install: Không kiểm tra bàn phím khi khởi động. Chú ý: chọn mục nầy không có nghĩa là vô hiệu hoá bàn phím vì nếu vậy làm sao điều khiển máy. Nó chỉ có tác dụng cho Bios khỏi mất công kiểm tra bàn phím nhằm rút ngắn thời gian khởi động.
2. Setup các thành phần nâng cao (Advanced Setup):
* Virut Warning:
Nếu Enabled, Bios sẽ báo động và treo máy khi có hành động viết vào Boot sector hay Partition của đĩa cứng. Nếu bạn cần chạy chương trình có thao tác vào 2 nơi đó như: Fdisk, Format… bạn cần phải Disable mục nầy.
* Internal cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) Cache (L1) nội trong CPU 486 trở lên.
* External cache:
Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable) cache trên mainboard, còn gọi là Cache mức 2 (L2).
* Quick Power On Self Test:
Nếu enable Bios sẽ rút ngắn và bỏ qua vài mục không quan trọng trong quá trình khởi động, để giảm thời gian khởi động tối đa.
* About 1 MB Memory Test:
Nếu Enable Bios sẽ kiểm tra tất cả bộ nhớ. Nếu Disable Bios chỉ kiểm tra 1 Mb bộ nhớ đầu tiên.
* Memory Test Tick Sound:
Cho phát âm thanh (enable) hay không (disable) trong thời gian test bộ nhớ.
* Extended Bios Ram Area:
Khai báo mục nầy nếu muốn dùng 1 Kb trên đỉnh của bộ nhớ quy ước, tức Kb bắt đầu từ địa chỉ 639K hay 0:300 của vùng Bios hệ thống trong bộ nhớ quy ước để lưu các thông tin về đĩa cứng. Xác lập có thể là 1K hay 0:300.
* Swap Floppy Drive:
Tráo đổi tên 2 ổ đĩa mềm, khi chọn mục nầy bạn không cần khai báo lại loại ổ đĩa như khi tráo bằng cách Set jumper trên card I/O.
* Boot Sequence:
Chọn ổ đĩa cho Bios tìm hệ điều hành khi khởi động. Có thể là C rồi đến A hay A rồi đến C hay chỉ có C. Bạn nên chọn C,A hay chỉ có C, để đề phòng trường hợp vô tình khởi động bằng đĩa mềm có Virus.
Hiện nay trên các Mainboard Pentium. Bios cho phép bạn chỉ định khởi động từ 1 trong 2 ổ mềm hay trong 4 ổ cứng IDE hay bằng ổ cứng SCSI thậm chí bằng ổ CD Rom cũng được.
* Boot Up Floppy Seek:
Nếu Enable Bios sẽ dò tìm kiểu của đĩa mềm là 80 track hay 40 track. Nếu Disable Bios sẽ bỏ qua. Chọn enable làm chậm thời gian khởi động vì Bios luôn luôn phải đọc đĩa mềm trước khi đọc đĩa cứng, mặc dù bạn đã chọn chỉ khởi động bằng ổ C.
* Boot Up Numlock Status:
Nếu ON là cho phím Numlock mở (đèn Numlock sáng) sau khi khởi động, nhóm phím bên tay phải bàn phím dùng để đánh số. Nếu OFF là cho phím Numlock tắt (đèn Numlock tối), nhóm phím bên tay phải dùng để di chuyển con trỏ.
* Boot Up System Speed:
Quy định tốc độ của CPU trong thời gian khởi động là High (cao) hay Low (thấp).
* Memory Parity Check:
Kiểm tra chẵn lẻ bộ nhớ. Chọn theo mainboard vì có loại cho phép mục nầy enable, có loại bắt bạn phải disable mới chịu chạy. Ðầu tiên bạn chọn enable, nếu máy treo bạn chọn lại là disable. Mục nầy không ảnh hưởng đến hệ thống, chỉ có tác dụng kiểm tra Ram.
* IDE HDD Block Mode:
Nếu ổ đĩa cứng của bạn hỗ trợ kiểu vận chuyển dữ liệu theo từng khối (các ổ đĩa đời mới có dung lượng cao). Bạn cho enable để tăng tốc cho ổ đĩa. Nếu ổ đĩa đời cũ bạn cho disable mục nầy.
* Pri. Master/Slave LBA (Logic Block Addressing) Mode:
Nếu 2 ổ đĩa cứng được nối vào đầu nối Primary của card I/O có dung lượng lớn hơn 528Mb, bạn cho enable mục nầy.
* Sec. IDE Ctrl Drives Install:
Mục nầy để khai báo máy bạn có ổ đĩa cứng nối vào đầu nối Secondary của card I/O. Các chỉ định có thể là Master, Mst/Slv và disable.
* Sec Master/Slave LBA Mode:
Xác lập LBA cho đầu nối thứ 2.
Chú ý: Các mục hỗ trợ cho ổ đĩa cứng có dung lượng lớn và các card I/O đời mới giúp bạn sử dụng ổ đĩa có dung lượng trên 528Mb. Trong trường hợp bạn cho enable các mục nầy rồi mới tiến hành Fdisk và Format đĩa, nếu sau đó bạn lại disable các mục nầy hay đem gắn qua máy khác cũng chọn disable, bạn sẽ không thể sử dụng được ổ dĩa cứng. Khi dùng ổ CDROM có đầu nối IDE, bạn nên gắn vào đầu nối Secondary để khỏi ảnh hưởng đến ổ dĩa cứng (gắn vào đầu nối Pri) khi cần chạy 32BitDiskAccess trong Windows.
* Typematic Rate Setting:
Nếu enable là bạn cho 2 mục dưới đây có hiệu lực. 2 mục nầy thay thế lịnh Mode của DOS, quy định tốc độ và thời gian trể của bàn phím.
* Typematic Rate (Chars/Sec):
Bạn lựa chọn số ký tự/giây tuỳ theo tốc độ đánh phím nhanh hay chậm của bạn. Nếu bạn Set thấp hơn tốc độ đánh thì máy sẽ phát tiếng Bip khi nó chạy theo không kịp.
* Typematic Delay (Msec):
Chỉ định thời gian lập lại ký tự khi bạn bấm và giữ luôn phím, tính bằng mili giây.
* Security Option:
Mục nầy dùng để giới hạn việc sử dụng hệ thống và Bios Setup.
Setup: Giới hạn việc thay đổi Bios Setup, mỗi khi muốn vào Bios Setup bạn phải đánh đúng mật khẩu đã quy định trước.
System hay Always: Giới hạn việc sử dụng máy. Mỗi khi mở máy, Bios luôn luôn hỏi mật khẩu, nếu không biết mật khẩu Bios sẽ không cho phép sử dụng máy.
Chú ý: Trong trường hợp bạn chưa chỉ định mật khẩu, để Disable (vô hiệu hoá) mục nầy, bạn chọn Password Setting, bạn đừng đánh gì vào các ô nhập mật khẩu mà chỉ cần bấm ENTER. Trong trường hợp bạn đã có chỉ định mật khẩu nay lại muốn bỏ đi. Bạn chọn Password Setting, bạn đánh mật khẩu cũ vào ô nhập mật khẩu cũ (Old Password) còn trong ô nhập mật khẩu mới (New Password) bạn đừng đánh gì cả mà chỉ cần bấm ENTER. Có mainboard thiết kế thêm 1 jumper để xoá riêng mật khẩu ngoài jumper để xoá toàn bộ thông tin trong CMOS. Tốt hơn hết là bạn đừng sử dụng mục nầy vì bản thân chúng tôi chứng kiến rất nhiều trường hợp dở khóc dở cười do mục nầy gây ra. Lợi ít mà hại nhiều. Chỉ những máy tính công cộng mới phải sử dụng tới mục nầy thôi.
* System Bios Shadow, Video Bios Shadow:
Nếu enable là cho copy các dữ liệu về System và Video trong Bios (có tốc độ chậm) vào Ram (tốc độ nhanh) để rút ngắn thời gian khi cần truy nhập vào các dữ liệu nầy.
* Wait for <F1> if Any Error:
Cho hiện thông báo chờ ấn phím F1 khi có lỗi.
* Numeric Processor:
Thông báo có gắn CPU đồng xử lý (Present) trên máy hay không (absent). Mục nầy thường có cho các máy dùng CPU 286, 386, 486SX. Từ 486DX trở về sau đã có con đồng xử lý bên trong CPU nên trên các máy mới có thể không có mục nầy.
* Turbo Switch Funtion:
Cho nút Turbo có hiệu lực (enable) hay không (disable). Mục nầy thường thấy ở các Bios đời củ, trên các máy đời mới lựa chọn nầy thường bằng cách Set jumper của Mainboard. Từ Mainboard pentium trở đi không có mục nầy.
3. Setup các thành phần có liên quan đến vận hành hệ thống (Chipset Setup):
* Auto Configuration:
Nếu enable, Bios sẽ tự động xác lập các thành phần về DRAM, Cache…mỗi khi khởi động tùy theo CPU Type (kiểu CPU) và System Clock (tốc độ hệ thống). Nếu Disable là để cho bạn tự chỉ định.
* AT Clock Option:
Nếu Async (không đồng bộ) là lấy dao động chuẩn của bộ dao động thạch anh chia đôi làm tốc độ hoạt động cho AT Bus (bus 8 – 16Bit). Thường là 14.318MHz/2 tức 7.159MHz. Có Bios còn cho chọn tốc độ của mục nầy là 14.318MHz. Nếu Sync (đồng bộ) là dùng System Clock (do bạn chỉ định bằng cách Set jumper trên mainboard) làm tốc độ chuẩn.
* Synchronous AT Clock/AT Bus Clock Selector:
Chỉ định tốc độ hoạt động cho AT Bus bằng cách lấy tốc độ chuẩn (system clock) chia nhỏ để còn lại khoảng 8MHz cho phù hợp với card 16Bit. Các lựa chọn như sau:
CLKI/3 khi system clock là 20 – 25MHz.
CLKI/4 khi system clock là 33MHz.
CLKI/5 khi system clock là 40MHz.
CLKI/6 khi system clock là 50MHz.
Tốc độ nầy càng lớn (số chia càng nhỏ), máy chạy càng nhanh do tăng tốc độ vận chuyển dữ liệu. Tuy nhiên lớn đến đâu là còn tùy thuộc vào mainboard và card cắm trên các Slot (quan trọng nhất là card I/O). Các bạn phải thí nghiệm giảm số chia từng nấc và chú ý máy có khởi động hay đọc đĩa bình thường không, nếu phát sinh trục trặc thì giảm xuống 1 nấc. Thường thì bạn có thể tăng được 2 nấc, thí dụ: System clock là 40MHz, bạn chọn CLKI/3. Card ISA 8 và 16 Bit có thể chạy tốt trong khoảng từ 8MHz đến 14MHz. Nếu nhanh quá, thường card I/O gặp trục trặc trước (không đọc được đĩa cứng).
* AT Cycle Wait States/Extra AT Cycle WS:
Ðể enable hay disable việc chèn thêm 1 thời gian chờ vào thời gian chuẩn của AT Bus. Nếu system clock dưới 33MHz chọn disable. Nếu trên 33MHz chọn enable.
* Fast AT Cycle:
Khi enable sẽ rút ngắn thời gian chuẩn của AT Bus.
* DRAM Read Wait States/DRAM Brust Cycle:
Dưới 33MHz là: 3 – 2 – 2 – 2 hay 2 – 1 – 1 – 1
Từ 33 – 45MHz là: 4 – 3 – 3 – 3 hay 2 – 2 – 2 – 2
50MHz là: 5 – 4 – 4 – 4 hay 3 – 2 – 2 – 2
Chọn mục nầy ảnh hưởng lớn đến tốc độ CPU.
* DRAM/Memory Write Wait States:
Chọn 1WS khi hệ thống nhanh hay DRAM chậm (tốc độ 40MHz trở lên). Chọn 0WS khi hệ thống và DRAM có thể tương thích (33MHz trở xuống).
* Hidden Refresh Option:
Khi enable, CPU sẽ làm việc nhanh hơn do không phải chờ mỗi khi DRAM được làm tươi.
* Slow Refresh Enable:
Mục nầy nhằm bảo đảm an toàn dữ liệu trên DRAM, thời gian làm tươi sẽ kéo dài hơn bình thường. Bạn chỉ được enable mục nầy khi bộ nhớ của máy hỗ trợ việc cho phép làm tươi chậm.
* L1 Cache Mode:
Lựa chọn giữa Write-Through và Write-Back cho Cache nội trong CPU 486 trở lên. Xác lập Write-Through máy sẽ chạy chậm hơn Write-Back nhưng việc lực chọn còn tuỳ thuộc vào loại CPU.
* L2 Cache Mode:
Xác lập cho cache trên mainboard.
* IDE HDD Auto Detection/IDE SETUP:
Khi chọn mục nầy sẽ xuất hiện một cửa sổ cho bạn chỉ định ổ đĩa cần dò tìm thông số (2 hay 4 ổ đĩa tuỳ theo Bios). Sau đó bạn bấm OK hay YES để Bios điền vào phần Standard dùm cho bạn. Trong Bios đời mới, Auto detect có thể đưa ra vài loại ổ đĩa. Tuỳ theo cách sử dụng ổ dĩa (normal, LBA,…) mà bạn chọn loại thích hợp.
* Power Management Setup:
Ðối với CPU 486:
Phần nầy là các chỉ định cho chương trình tiết kiệm năng lượng sẵn chứa trong các Bios đời mới. Chương trình nầy dùng được cho cả 2 loại CPU: Loại thường và loại CPU kiểu S. CPU kiểu S hay CPU có 2 ký tự cuối SL là một loại CPU được chế tạo đặc biệt, có thêm bộ phận quản lý năng lượng trong CPU. Do đó trong phần nầy có 2 loại chỉ định dành cho 2 loại CPU.
Ðối với Pentium:
Dùng chung cho mọi loại Pentium hay các chíp của các hảng khác cùng đời với Pentium.
* Power Management/Power Saving Mode:
Disable: Không sử dụng chương trình nầy.
Enable/User Define: Cho chương trình nầy có hiệu lực.
Min Saving: Dùng các giá trị thời gian dài nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm năng lượng ít nhất).
Max Saving: Dùng các giá trị thời gian ngắn nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm nhiều nhất).
* Pmi/Smi:
Nếu chọn SMI là máy đang gắn CPU kiểu S của hãng Intel. Nếu chọn Auto là máy đang gắn CPU thường.
* Doze Timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Khi đúng thời gian máy đã rảnh (không nhận được tín hiệu từ các ngắt) theo quy định, CPU tự động hạ tốc độ xuống còn 8MHz. Bạn chọn thời gian theo ý bạn (có thể từ 10 giây đến 4 giờ) hay disable nếu không muốn sử dụng mục nầy.
* Sleep Timer/Standby timer:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S. Chỉ định thời gian máy rảnh trước khi vào chế độ Sleep (ngưng hoạt động). Thời gian có thể từ 10 giây đến 4 giờ.
* Sleep Clock:
Mục nầy chỉ dùng cho CPU kiểu S: Stop CPU hạ tốc độ xuống còn 0MHz (ngưng hẳn). Slow CPU hạ tốc độ xuống còn 8MHz.
* HDD Standby Timer/HDD Power Down:
Chỉ định thời gian ngừng motor của ổ đĩa cứng.
* CRT Sleep:
Nếu Enable là màn hình sẽ tắt khi máy vào chế độ Sleep.
* Chỉ định:
Các chỉ định cho chương trình quản lý nguồn biết cần kiểm tra bộ phận nào khi chạy.
Chú ý: Do Bios được sản xuất để sử dụng cho nhiều loại máy khác nhau nên các bạn luôn luôn gặp phần nầy trong các Bios. Thực ra chúng chỉ có giá trị cho các máy xách tay (laptop) vì xài pin nên vấn đề tiết kiệm năng lượng được đặt lên hàng đầu. Chúng tôi khuyên các bạn đang sử dụng máy để bàn (desktop) nên vô hiệu hoá tất cả các mục trong phần nầy, để tránh các tình huống bất ngờ như: đang cài chương trình, tự nhiên máy ngưng hoạt động, đang chạy Defrag tự nhiên máy chậm cực kỳ…
4. Phần dành riêng cho Mainboard theo chuẩn giao tiếp PCI có I/O và IDE On Board (peripheral Setup):
* PCI On Board IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) 2 đầu nối ổ đĩa cứng IDE trên mainboard. Khi sử dụng Card PCI IDE rời, ta cần chọn disabled.
* PCI On Board Secondary IDE:
Cho hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) đầu nối ổ đĩa cứng IDE thứ 2 trên mainboard. Mục nầy bổ sung cho mục trên và chỉ có tác dụng với đầu nối thứ 2.
* PCI On Board Speed Mode:
Chỉ định kiểu vận chuyển dữ liệu (PIO speed mode). Có thể là Disabled, mode 1, mode 2, mode 3, mode 4, Auto. Trong đó mode 4 là nhanh nhất.
* PCI Card Present on:
Khai báo có sử dụng Card PCI IDE rời hay không và nếu có thì được cắm vào Slot nào. Các mục chọn là: Disabled, Auto, Slot 1, Slot 2, Slot 3, Slot 4.
* PCI IRQ, PCI Primary IDE IRQ, PCI Secondary IDE IRQ:
Chỉ định cách xác lập ngắt cho Card PCI IDE rời.
Chú ý: Trong mục nầy có phần xác lập thứ tự gán ngắt cho các Card bổ sung. Thí dụ: 1 = 9, 2 = 10, 3 = 11, 4 = 12 có nghĩa là Card đầu tiên cắm vào bất kỳ Slot nào sẽ được gán ngắt 9, nếu có 2 Card thì Card cắm vào Slot có số thứ tự nhỏ sẽ được gán ngắt 9, Slot có số thứ tự lớn sẽ được gán ngắt 10.v..v…
* IDE 32Bit Transfers Mode:
Xác lập nầy nhằm tăng cường tốc độ cho ổ đĩa cứng trên 528Mb, nhưng cũng có ổ đĩa không khởi động được khi enabled mục nầy dù fdisk và format vẫn bình thường.
* Host to PCI Post Write W/S, Host to PCI Burst Write, Host to DRAM Burst Write:
Các mục nầy xác lập cho PCU Bus, không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ CPU, có thể để nguyên xác lập mặc nhiên.
* PCI Bus Park, Post Write Buffer:
Khi enabled các mục nầy có thể tăng cường thêm tốc độ hệ thống.
* FDC Control:
Cho hiệu lực hay không đầu nối cáp và xác lập địa chỉ cho ổ đĩa mềm.
* Primary Seral Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
* Secondary Serial Port:
Cho hiệu lực hay không cổng COM 2 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy. Chú ý: Nếu bạn sử dụng Card bổ sung có xác lập điạ chỉ là COM 1 hay COM 2, bạn phải disabled cổng tương ứng trong hai mục trên.
* Parallel Port:
Cho hiệu lực hay không cổng LPT 1 và xác lập địa chỉ cho cổng nầy.
5. Hướng dẫn Setup Bios:
Trong các tài liệu đi kèm mainboard, đều có hướng dẫn Setup Bios. Khi mua máy hay mua mainboard, các bạn nhớ đòi các tài liệu nầy vì nó rất cần cho việc sử dụng máy.
Trong các phần Setup trên, phần Standard, Advanced có ảnh hưởng đến việc cấu hình máy. Phần Chipset ảnh hưởng đến tốc độ máy. Phần PCI ảnh hưởng đến các gán ngắt, địa chỉ cho các Slot PCI, cổng; cách vận chuyển dữ liệu cho IDE On Board.
Nếu gặp các thành phần hoàn toàn mới, trước tiên bạn hãy Set các thành phần đã biết, kiểm tra việc thay đổi của máy, cuối cùng mới Set tới các thành phần chưa biết. Chúng tôi xin nhắc lại, việc Setup Bios sai không bao giờ làm hư máy và các bạn sẽ dễ dàng Setup lại nhờ vào chính Bios. Trên mainboard luôn luôn có 1 Jumper dùng để xóa các thông tin lưu trong CMOS để bạn có thể tạo lại các thông tin nầy trong trường hợp không thể vào lại Bios Setup khi khởi động máy.
Khi tiến hành tìm hiểu Setup Bios, bạn nên theo một nguyên tắc sau: Chỉ Set từng mục một rồi khởi động máy lại, chạy các chương trình kiểm tra để xem tốc độ CPU, ổ đĩa có thay đổi gì không?. Cách làm nầy gíúp bạn phát hiện được ảnh hưởng của từng mục vào hệ thống và bạn có thể biết chắc trục trặc phát sinh do mục nào để sửa chữa. Khi xẩy ra trục trặc mà bạn không biết đối phó, bạn chỉ cần vào lại Bios Setup chọn Load Bios Default hay bấm F6 trong phần Set mà bạn muốn phục hồi sau đó khởi động máy lại là xong.

Published in: on February 13, 2009 at 10:30 am  Leave a Comment  
Tags:

Khắc phục lỗi xuống hàng vô tội vạ trong Word

Một văn bản, nhất là văn bản scan từ sách rất hay bị lỗi xuống hàng vô tội vạ. Bạn phải khắc phục lỗi này bằng cách dùng phím Delete để kéo từng dòng lên. Thật khủng khiếp, nếu văn bản có 100 trang thì bạn mất hàng giờ có khi là 1 ngày cho công việc này đấy. Có cách làm hay hơn là bạn dùng chương trình PSPad (http://pspad.cincura.net/files/pspad450inst_en.exe) (miễn phí).

Chỉ cần copy văn bản rồi dán qua PSPad, chọn tất cả văn bản, click phải chuột rồi chọn Special Paste/Join Lines. Văn bản sẽ nối liền lại thành 1 dòng duy nhất. Lúc này bạn chỉ cần ngắt đoạn đúng với bản gốc, đỡ tốn công hơn là phải kéo từng dòng văn bản.

Có một mẹo nhỏ để xử lý các bản text bị xuống hàng vô tội vạ. Các đoạn xuống hàng vô nghĩa thường là nằm giữa câu, tức là không có dấu chấm câu (.) trước dấu xuống hàng (enter). Vậy trong Word bạn thử làm thế này:

1. Tìm tất cả các dấu xuống hàng đúng luật, thế nó bằng 1 ký tự đặc biệt nào đó.
Ví dụ, bạn vào Find and Replace
Điền trong mục Find what: .^p
Điền trong mục Replace with: ###
(chú thích: ^p là ký hiệu của dấu xuống hàng)

2. Bây giờ thay thế tất cả các dấu xuống dòng còn lại bằng dấu cách (Space).

3. Lại thay thế lần nữa các dấu ký hiệu đặc biệt nói trên bằng dấu xuống hàng bình thường như trước (làm ngược lại mục 1).

Published in: on February 11, 2009 at 7:40 am  Leave a Comment  

Để Firefox chạy nhanh gấp 10 lần

1. Đầu tiên, bạn gõ lệnh about:config lên thanh địa chỉ trình duyệt Firefox và nhấn Enter. Sau đó, cuộn con chuột xuống dưới và tìm đến các thành phần sau đây và thay đổi lại thiết lập của nó:

- Đổi giá trị của network.http.proxy.pipelining thành True

- Đổi giá trị của network.http.pipelining thành True

- Gán network.http.pipelining.maxrequests về một con số bất kỳ, chẳng hạn là 30. Điều này có nghĩa Firefox sẽ thự hiện 30 câu lệnh (requests) cùng một lúc.

- Cuối cùng, nhấp chuột phải vào bất kỳ vị trí nào trên trang và chọn giá trị New –> Interger. Sau đó gán vào tên của nó: nglayout.initialpaint.delay và gán gia trị 0 cho nó. Giá trị này có ý nghĩa là khoảng thời gian trình duyệt chờ đợi trước khi thực hiện mệnh lệnh vừa nhận được.

2. Cách thứ hai, người dùng có thể thiết lập lại cho mạng Internet ADSL.

Cách thực hiện: Đầu tiên, bạn gõ lệnh about:config lên thanh địa chỉ trình duyệt Firefox và nhấn Enter. Sau đó, bạn tìm các thành phần dưới đây để thay đổi thiết lập:

- Gán network.http.pipelining.maxrequests lên giá trị 100.

- Gán network.http.max-connections lên giá trị 64

- Đổi giá trị của network.http.proxy.pipelining thành True

- Gán network.http.max-persistent-connections-per-server về giá trị 8

- Đổi giá trị của network.http.pipelining thành true

- Gán network.http.max-connections-per-server về giá trị 21

Cuối cùng, bạn nhấp chuột phải lên trang và chọn New-> Integer. Tiếp đó, bạn đặt tên thành nglayout.initialpaint.delay và gán về giá trị 0.

T.Vũ

Theo dantri

Published in: on January 29, 2009 at 4:22 am  Leave a Comment  

Tạo tập tin ghost cho Windows XP để chạy trên nhiều máy

Vấn đề đa số các bạn dùng máy tính thường gặp phải là cài đặt lại phần mềm cho máy tính của mình, một công việc chẳng thú vị gì mấy đối với những người bận rộn. Tuy nhiên, điều đơn giản nhất để tránh sự nhàm chán đó là dùng chương trình Ghost để sao lưu (backup) lại ổ cứng của bạn ở tình trạng tốt nhất và sau khi bị sự cố thì ta chỉ cần phục hồi (restore) lại là xong ngay.
Nếu vấn đề chỉ đơn giản là vậy thì tôi cũng chẳng viết bài này làm gì! Thế nhưng khi bạn nâng cấp máy mới với một mainboard khác và bạn vẫn muốn giữ lại bộ Windows XP cũ của mình thì vấn đề lại xảy ra nếu mainboard cũ và mới không giống nhau. Để giải quyết vấn đề này ta làm như sau:

Bước 1: Cài đặt windows XP và tất cả chương trình cần thiết.

Bước 2: Vào thư mục C:\WINDOWS\Driver Cache\i386, mở file Driver.cab rồi trích (Extract) các tập tin Atapi.sys, Intelide.sys, Pciide.sys, and Pciidex.sys vào thư mục C: \WINDOWS\System32\drivers.

Bước 3: Tạo tập tin tên Mergeide.reg bằng Notepad với nội dung như sau:

Windows Registry Editor Version 5.00

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\primary_ide_channel]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”atapi”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\secondary_ide_channel]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”atapi”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\*pnp0600]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”atapi”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\*azt0502]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”atapi”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\gendisk]

“ClassGUID”=”{4D36E967-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”disk”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#cc_0101]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_0e11&dev_ae33]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1039&dev_0601]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1039&dev_5513]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1042&dev_1000]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_105a&dev_4d33]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1095&dev_0640]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1095&dev_0646]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1095&dev_0646&REV_05]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1095&dev_0646&REV_07]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1095&dev_0648]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1095&dev_0649]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1097&dev_0038]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_10ad&dev_0001]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_10ad&dev_0150]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_10b9&dev_5215]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_10b9&dev_5219]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_10b9&dev_5229]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”pciide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_1106&dev_0571]

“Service”=”pciide”

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_8086&dev_1222]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”intelide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_8086&dev_1230]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”intelide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_8086&dev_2411]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”intelide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_8086&dev_2421]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”intelide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_8086&dev_7010]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”intelide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_8086&dev_7111]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”intelide”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CriticalDeviceDatabase\pci#ven_8086&dev_7199]

“ClassGUID”=”{4D36E96A-E325-11CE-BFC1-08002BE10318}”

“Service”=”intelide”

;Add driver for Atapi (requires Atapi.sys in Drivers directory)

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Services\atapi]

“ErrorControl”=dword:00000001

“Group”=”SCSI miniport”

“Start”=dword:00000000

“Tag”=dword:00000019

“Type”=dword:00000001

“DisplayName”=”Standard IDE/ESDI Hard Disk Controller”

“ImagePath”=hex(2):53,00,79,00,73,00,74,00,65,00,6d,00,33,00,32,00,5c,00,44,00,\

52,00,49,00,56,00,45,00,52,00,53,00,5c,00,61,00,74,00,61,00,70,00,69,00,2e,\

00,73,00,79,00,73,00,00,00

;Add driver for intelide (requires intelide.sys in drivers directory)

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Services\IntelIde]

“ErrorControl”=dword:00000001

“Group”=”System Bus Extender”

“Start”=dword:00000000

“Tag”=dword:00000004

“Type”=dword:00000001

“ImagePath”=hex(2):53,00,79,00,73,00,74,00,65,00,6d,00,33,00,32,00,5c,00,44,00,\

52,00,49,00,56,00,45,00,52,00,53,00,5c,00,69,00,6e,00,74,00,65,00,6c,00,69,\

00,64,00,65,00,2e,00,73,00,79,00,73,00,00,00

;Add driver for Pciide (requires Pciide.sys and Pciidex.sys in Drivers directory)

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Services\PCIIde]

“ErrorControl”=dword:00000001

“Group”=”System Bus Extender”

“Start”=dword:00000000

“Tag”=dword:00000003

“Type”=dword:00000001

“ImagePath”=hex(2):53,00,79,00,73,00,74,00,65,00,6d,00,33,00,32,00,5c,00,44,00,\

52,00,49,00,56,00,45,00,52,00,53,00,5c,00,70,00,63,00,69,00,69,00,64,00,65,\

00,2e,00,73,00,79,00,73,00,00,00

Bước 4: Bây giờ bạn nhấp chuột phải vào tập tin Mergeide.reg và chọn Merge rồi nhấn Yes trong bảng thông báo của Windows.

Bước 5: Cuối cùng khởi động lại máy tính và cho chạy chương trình Ghost để tạo tập tin sao lưu. Vậy là bạn có được một bộ backup Windows XP tương thích với rất nhiều mainboard thông dụng rồi đó.

Đây là bài viết của tác giả Phạm Huỳnh Khắc Vũ.
blogtinhoc

Published in: on January 25, 2009 at 10:26 am  Leave a Comment  

Kinh nghiệm khi mang laptop đi sửa

Bài viết do RECOVERY ĐẤT VIỆT thực hiện …

- Dưới đây chỉ là 1 trong rất nhiều cách luộc đồ của khách mà mình tận mắt chứng kiến, khi khách mang Laptop của họ đến sửa chữa nơi mình. Đừng để tiền mất tật mang.

- Đa số laptop hư củ đến chỗ tôi thì khổ chủ đã mang qua nhiều nơi. Khi được hỏi, tôi biết họ đã đưa rất nhiều chỗ khác nhau trước khi mình tháo ra kiểm tra tòan bộ. VD:lần 1: họ sẽ mang qua các nơi thật to,có tiếng tăm,quảng cáo rất hầm hố …(đọc mục 4). Lần 2: mang qua các cửa hàng lớn..Mà ít khi nào họ được tư vấn hay hướng dẫn bởi 1 nơi an tòan và tin cậy .Lần n : qua tôi … thì nó không còn là “laptop”!

=> Tất cả đều “dính chấu” và bị “luộc” từ trên xuống dưới.Theo tôi, không phải vì chủ các cửa hàng lớn họ làm ăn như vậy, mà đa số do chính tay nhân viên của họ.Dù bạn có sửa hay không thì bạn đã bị mất 1 số tiền nhất định (có thể 50k tiền chi phí nhận dù có sửa hay cứu DATA…)

- Phá cho hư luôn (vì khách ko chịu chi phí sửa sau báo giá hoặc thay mới-cái này phải xét lại à vì làm gì có mới mà thay!) : dùng dao lam rạch chân chip cầu…cách này khá ác và những lỗi phá mà kỹ thuật rành nghề cũng khó phát hiện … nói chung có 101 cách rất khó biết một khi đã làm ăn bất chính. Ở đây tôi chỉ nêu ra 1 số vấn đề có thể nhận biết

- Luộc các bạn sẽ tìm thấy phía dưới .Mọi thiết bị đều có số Seri,nhưng đa phần ít ai ký trực tiếp lên board mạch hay cho dù có thì làm sao tháo tung ra hết mà ký cho được đầy đủ?điều này chỉ làm an tâm khách hàng là chính;nên khi nhận và trả hàng chỉ căn cứ trên chữ ký của khách => trả hàng (Nhân viên : anh kiểm tra giùm thiết bị của anh,có chữ ký của anh..tôi ráp lại cho anh nhé … Khách : ok !!!) mà không biết mình đã bị những gì

1 /Nếu máy của bạn vẫn lên :nhưng chập chờn hay lỗi ram cd chẳng hạn : Sau khi nhận máy => tháo máy kiểm tra => cho khách hàng ký lên thiết bị ,ở đây đa phần họ “tận tình” chỉ trỏ ký lên “mạc”,nhìn rất ư là có trách nhiệm (ký lên maind1 cái ,ram 1 cái ,cd 1 cái.. những điều này chỉ làm an tâm khách hàng là chính!) => nhận biên lai (có thể đóng 1 khoảng phí 50k..100k, số tiền này ko lấy lại được dù sửa máy hay cứu DATA được hay không!) => ra về chờ vài ngày báo giá qua DT (tình trạng bị hư, cây thư mục hay mã hóa nếu cứu DATA!..) rồi tìm mọi cách nâng tiền gấp nhiều lần so với dự tính ban đầu của khách

Báo giá :có thể từ vải chục…cả ngàn usd, cứu DATA thì “hdd của anh đã bị ..mã hóa thì anh phải giải mã với giá…ngất trời hơn 10tr chẳng hạn => khách tiêu ngỉa ôm hdd bị banh chành đi về và mất đi số tiền phí ban đầu! (một ngày chỉ cần nhận vài chục khách như thế..có mà giàu to)

a. Khách chịu sửa : với giá trên trời mà bấm bụng chịu luôn => máy được trả về sau khi sửa xong có thể ok

b. Khách không sửa : nhận máy về => Vì vậy bạn phải Test ngay ,coi có đúng là máy bạn vẫn lên như lúc đầu hay không => không lên như lúc đầu => chia buồn cùng bạn ,40% có thể máy bạn bị tráo hay bị phá 1 số linh kiện trong đó =>có thể vì Cty lớn; không muốn chỗ khác sửa được sợ mất uy tín nên làm hư luôn (cái này tùy Cty nhe)

2/ Nếu máy của bạn không lên : Sau khi nhận máy => tháo máy kiểm tra => cho khách hàng ký lên thiết bị ,ở đây đa phần họ “tận tình” chỉ trỏ ký lên “mạc”,nhìn rất ư là có trách nhiệm => nhận biên lai(có thể đóng 1 khoảng phí 50k..100k, số tiền này ko lấy lại được dù sửa máy hay cứu DATA được hay không!) => ra về chờ vài ngày báo giá qua điện thoại

Báo giá :có thể từ vải chục…ngàn usd => thiết bị hư gì thì khách có trời mà biết => chỉ biết đồng ý sửa hay không

a. Khách chịu sửa : với giá trên ngất trời mà bấm bụng chịu luôn => máy được trả về sau khi sửa xong có thể chạy tốt

b. Khách không sửa : nhận máy về => đa phần còn bộ vỏ là zin đúng như máy của bạn và 90% các linh kiện, bị tráo cho đến tận “răng”(dù có xác nhận chữ ký trên đó,bạn coi hồi sau sẽ rõ) => trả máy cho khách => yêu cầu khách kiểm tra hàng mình và nhận lại =>(Nhân viên : anh kiểm tra giùm thiết bị của anh,có chữ ký của anh..tôi ráp lại cho anh nhé … Khách : ok !!!) => khách hết ý kiến,ôm máy về.

Đa phần chữ ký của khách,sẽ được nhân viên tận tình” hướng dẫn ” cố tình ký lên trên mạc,như vậy sẽ rất dễ dàng “lột ra” và dán vào thiết bị khác đã bị hư hay yếu hơn.Điều này có thể họ làm ẩu 1 chút nên bạn vẫn sẽ nhìn thấy dấu vết khi tháo tòan bộ ra xem như : vết dơ sau LCD,vết băng keo zin khi lột ra dán lại… (trong trường hợp này LCD của bạn chắc chắn còn tốt mà có dấu mở,vậy bạn phải hiểu họ mở ra làm gì rồi chứ?)

- Bạn đừng nghĩ sẽ không có thiết bị hư giống như của bạn mà họ thay. Thiết bị hư thì rất nhiều như :

. mua ve chai,thanh lý máy của khách
. hay bỏ hẳn vài triệu ra mua vài thùng xác HDD laptop đủ dung lượng,cd,linh kiên,maind.. tại chợ Nhật Tảo hay thanh lý đâu đó
. sàng qua lại giữa 2 laptop của 2 khách có máy giống nhau .VD: khách A maind IBM T43 hư và đồng ý sửa ,khách B có laptop hư màn hình T43 nhưng không đồng ý sửa => thế là …các bác biết gòi
. thay đồ hư,giữ lại đồ chạy…chờ gà tiếp theo..

3/ Chiêu phá hoại : 1 số nơi tháo vài con chip “độc,hiếm,ko có hàng thay” rồi cất đi; thay đổi trật tự IC, đảo chiều…(làm cho laptop không ai có thể tìm sửa được; chỉ có họ mới biết được vị trí chính xác rồi làm lại như ban đầu nếu khách quay lại chịu sửa với giá cắt cổ) => trả Laptop ,PC HDD cho khách => làm cho họ mang qua chỗ khác sửa không được ,đành mang về chỗ củ làm được => uy tín nơi đó tăng lên mà khổ chủ vẫn không hay biết cách làm gian dối của họ.

4/ Chiêu thuốc gà :.Mọi người tìm sửa laptop hay cứu DATA thì hay tìm trên google => xuất hiện rất nhiều câu mời chào => làm đa số mọi người tin tưởng đến nơi…và “dính chấu” ,mà không chịu thông qua 1 nơi tin tưởng nào khác hay chịu khó hỏi han cặn kẽ. Hay một số nơi họ chỉ cần 50k cho 1 người khách (góp gió thành bảo). Còn 1 số nơi trưng bảng hiệu thật to : ” kiểm tra Laptop,PC không tốn 1 xu” ” sử lý sự cố miễn phí ” ” kiểm tra sức khỏe PC giúp bạn”…. => vậy thử hỏi họ có lợi lộc gì? hay “khám” xong ra bệnh ?

5/ Chữ ký: Đa phần cho khách ký chỉ là 1 hình thức chấn an cho khách an tâm mà thôi ký lên board hay trực tiếp lên chíp thì cũng thế VD: còn ram thì sao? đa số hình thức thì chúng giống nhau từng con chíp ,chỉ khác nhau là ram “sống” hay ram “chết” vì vậy cho dù ký trực tiếp lên chỉ giảm được chút rùi ro,đa phần chữ ký khách thì đơn giản => có thể giả nếu cố tình

Ký hiệu màu đỏ : chữ ký,chíp đã bị tráo đổi,tháo chíp,cố tình làm đảo ngược trật tự các IC trên dưới với nhau…
Màu xanh : Thiết bị còn “zin”,hay vị trí chíp ,ốc..ban đầu

6/ Tráo CD,DVD =>màu đỏ là chữ ký khách hàng.Màu xanh là 3 con ốc,khi tháo 3 con này sẽ tráo mặt CD rất dễ dàng,đa số định dạng các đời máy là giống nhau.(bị như vậy khách cũng vô phương biết mình đã bị”thuốc”) (trị giá ổ CD,DVD 15$…75$)

Chỉ cần tháo mặt trên CD (có chữ ký)ra + mặt nạ trước => quá trình phù phép CD hoàn tất! rất dễ

7/ Luộc Ram => mạc zin của ram rất phẳng ,khi lột ra dán lại sẽ có nhiều gợn sóng… (trị giá 8$…50$) ,sẽ bó tay ko thể biết với 2 ram chết và sống giống nhau!

Ram đúng là mỗi thanh 1G .Vậy mà bị tráo thành 1 cặp 256 “chết” ,dù có chữ ký. Chỉ có cái mạc 1Gb là zin,còn ram đã bị tráo rùi

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1024×765 and weights 1139KB.

Mạc bị bong ra,có gợn sóng.Xui xẻo chủ máy cắm vô bật thử,toàn bộ bốc ra 1 mùi khét lẹt,chết cả đám thiết bị

8/Tráo Wireless,modem,ir…Chúng ta nhìn kỹ thì thấy được các vết dơ khi cầm tay vô bóc mạc ra.Mạc bị nhăn nheo,ko có hình dạng phẳng lì như ban đầu,ko có vết keo xung quanh mép mạc (trường hợp này anh nào dán ẩu thì mới thấy!)…(trị giá 15$…45$)

9/ Tráo cáp vga (trị giá 15$…35$),đổi board cao áp(15…35$),thay bằng LCD lỗi(trị giá LCD tốt 70$…200$)

Cáp vga chạy dài sau LCD. Được cố định bằng băng dính khi lột ra ,khó mà kô để lại dấu vết.Mà các bạn phải tự nhận thấy điều này nhé : nếu hư chỉ phần board mạch chính,cd ,hdd..tại sao phải mở LCD ra làm gì ? (nếu bạn phát hiện ra dấu mở LCD,kiểm tra ngay lập tức)

Các dấu tay còn dơ dính sau lưng LCD 15 Gương đã bị tráo 15 Gương hư(điều này khi mới xuất xưởng ko bao giờ có)

10/ Luộc CPU => từ Duo thành celeron trong chớp mắt (trị giá 15$…200$)

11/ Luộc HDD => chỉ cần tráo mạc là xong,cho khớp với dung lượng (còn chàng nào cao tay thì 40G tráo thành 40G…rồi ký lên lại, nhanh như chớp…có ngay 1 hdd ngon lành) .Danh sách hdd dễ lột mặt nhất từ dể đến khó :
– Seagate, maxtor, samsung, Fuji..cuối cùng khó nhất là Hitachi (đa phần tráo mặt ko duoc do mạc đời mới có tráng lớp thiết,lột ra ko dán lại được,nên phải luộc nguyên con!)

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1024×765 and weights 853KB.

12/ Luộc bin =>

13/ Tráo maind hoặc phá hỏng,làm cho những chổ khác không có khả năng phục hồi được(vì sợ mất uy tín Cty)

13/ Chiêu thứ n ……… rãnh cập nhật tiếp

=> Chỉ 1 lời khuyên : bà con cùng đề phòng vì rất ít khi nào phát hiện được
=> Khi có Laptop,PC hư nên nhờ ai thân tín tháo ra dùm.
=> Chỉ nên cầm chỉ 1 thiết bị đi sửa,tất cả phải mang về nhà … cẩn thận vẫn hơn
=> Cố gắng làm dấu,hay ghi lại tòan bộ số seri từ a..z truớc mặt họ(nhưng điều này nếu họ không đổi được thì..chỉ có phá hỏng 1 thiết bị nào đó…đọc ở mục 3)
=> Nếu đã báo giá ,thì nên sửa luôn.Đừng nên mang về nhà,vì bạn cũng bỏ xó mà thôi…

Có gì sai mấy bác bỏ qua .Thiếu thì hãy bổ xung. Các truờng hợp trên là bình thường,đối với cao thủ thì khách hàng có trời mà biết

(5giay)5giay

Published in: on January 25, 2009 at 10:25 am  Leave a Comment  

Cai dat va su dung Recovery Console

I. Tổng quan.
Windows Recovery console được thiết kế để giúp bạn phục hồi lại máy khi máy bạn gặp sự cố vào không thể khởi động bình thường hoặc không thể khởi động được.
Nếu như lúc đó Safemode và các tuỳ chọn khởi động khác không hoạt động, bạn hãy nghĩ tới việc sử dụng Recovery Console. Đây là phương thức được khuyến cáo chỉ dùng nếu bạn là một người dùng có kinh nghiệm, có thể sử dụng các câu lệnh cơ bản để nhận diện và xác định đúng lỗi. Và bạn phải có quyền quản trị ( Administrator) để sử dụng được Recovery Console.

II. Cài đặt Recovery Console
Bạn có thể cài đặt Recovery Console trên máy tính của bạn để nó sẵn sàng khi bạn không thể khởi động Windows. Chúng ta có thể chọn chế độ Recovery Console từ danh sách các lựa chọn khi khởi động ( Bấm F8 khi khởi động). Đây là một điều khôn ngoan khi cài Recovery Console tên một máy server quan trọng hay một máy trạm.
Tại mục này sẽ trình bày cách cài đặt Recovery Console trên máy tính của bạn chạy Windows Xp.
Đầu tiên, bạn phải là người có quyền quản trị trên máy tính. Mặc dùng, bạn có thể chạy Recovery Console bằng việc boot trực tiếp bằng đĩa CD Windows Xp, nó thuận tiện hơn nhiều việc cài đặt Recovery vào tuỳ chọn khởi động của bạn. Việc này sẽ được nói rõ hơn trong mục ” Sử dụng Recovery Console” ở phần sau.
Để cài đặt, bạn cần làm theo cách bước sau.

  1. Cho đĩa cài Windows Xp vào ổ đĩa CD-Rom
  2. Vào Start, chọn Run
  3. Trong hộp thoại hiện ra, gõ d:\i386\winnt32.exe /cmdcons với d là tên của ổ đĩa CD-Rom
  4. Một hộp thoại xuất hiện, mô tả về Recovery Console . Hệ thống sẽ yêu cầu bạn xác nhận việc cài đặt. Chọn Yes để tiến hành cài đặt.
  5. Khởi động lại máy. Bạn sẽ thấy dòng “Microsoft Windows Recovery Console” trên menu boot.

II. Sử dụng Recovery Console

Bạn có thể dùng Recovery Console để bật/tắt các dịch vụ, định dạng đĩa cứng, đọc và ghi dữ liệu trên đĩa ( kể cả đĩa được định dạng bằng NTFS), và hoàn thành nhiều tiến trình quản trị khác.
Recovery Console đặc biệt hữu dụng khi bạn cần sửa lại máy tính bằng việc copy một file từ đĩa CD-ROm hoặc đĩa mềm vào đĩa cứng, hoặc nếu bạn muốn cấu hình lại một dịch vụ để bảo đảm máy bạn hoạt động bình thường.
Nếu bạn không thể khởi động Windows, bạn có thể chạy Recovery Console từ đĩa mềm khởi động Windows XP hoặc đĩa CD cài đặt Windows Xp.
Bạn hãy làm theo các bước sau:
1. Cho đĩa CD cài đặt Windows XP vào ổ CD-Rom và khởi động lại máy từ đĩa CD này. ( Vào BIOS và chỉnh lại The First boot device là CD-ROM )
2. Khi màn hình chào mừng xuất hiện, nhấn phím R.
3. Nếu máy bạn cài nhiều hơn 1 hệ điều hành, hãy chọn ổ đĩa chứ HĐH mà bạn cần truy cập từ Recovery Console.
4. Điền password của tài khoản quản trị, nếu không có, hãy để trống và nhấn Enter.
5. Tại dấu nhắc lệnh, gõ lệnh thích hợp để chuẩn đoán và sửa lại hệ thống Windows XP của bạn.

chú ý: Để xem danh sách các lệnh có trong Recovery Console, gõ recovery console commands hoặc help tại dấu nhắc lệnh, sau đó Enter.
Và để có được thông tin nhiều hơn nữa về một lệnh, gõ help ten_lenh vào dấu nhắc và Enter.
6. Để thoát khỏi Recovery Console, và khởi động lại máy, gõ exit tại dấu nhắc lệnh và nhấn Enter.

III. Sử dụng các lệnh trong Recovery Console
Khi sử dụng Recovery Console, bạn đang làm việc trên một Command Prompt đặc biệt hơn một chút so với Windows Command Prompt. Recovery Console có những lệnh riêng của nó.
Để sử dụng các lệnh này, recovery console sẽ hỏi bạn password của tài khoản quản trị.
Khi recovery console khởi động, bạn có thể nhấn F6 để cài đặt Driver cho ổ Cứng SCSI hoặc RAID nếu bạn cần truy cập vào chúng.
Recovery Console cần vài giây để khởi động xong. Một menu xuất hiện và bạn hãy chọn một con số từ danh sách ứng với phân vùng cài đặt Windows. Chọn một số và nhấn Enter.
KHi bạn nhìn thấy dòng %SystemRoot% ( thường là C:\Windows ), bạn đã có thể bắt đầu sử dụng các lệnh của Recovery Console

Chức năng của các lệnh
1. Attrib : chỉnh lại thuộc tính của file hoặc thư mục
2. Batch : Thực thi lệnh được bạn chỉ định trong một file text.
3. bootcfg : chỉnh sửa lại file boot.ini
4. cd ( chdir) : chuyển từ thư mục hiện tại sang một thư mục khác trên đĩa
5. chkdsk :
/p : chạy chkdsk khi ổ đĩa không được đánh dấu là “dirty”
/r : đọc cả các bad sectors và khổi phục các dữ liệu còn có thể đọc được, nó bao gồm cả /p

6. cls : xoá màn hình
7. copy : copy một file tới một địa điểm xác đinh.
8. Del : xoá một file.
9. Dir : hiện danh sách tất cả các file có trong thư mục, kể cả file ẩn và file hệ thống.
10. Disable : tắt một dịch vụ của Windows hoặc trình điều khiển.
cách dùng: disable ten_dichvu_dirver . Nó sẽ hiện ra dạng khởi động nguyên bản của driver hoặc service đó trước khi tắt nó đi, bạn hãy ghi nhớ lại để dùng khi cần khởi động lại dịch vụ hoặc driver này bằng lệnh enable.
11. Enable: khởi động một dịch vụ của Windows hoặc trình điều khiển.
cách dùng: startup ten_dichvu_driver dang_khoi_dong
Dạng khởi động ( Startup type) có thể là một trong các dạng sau:
SERVICE_BOOT_START
SERVICE_SYSTEM_START
SERVICE_AUTO_START
SERVICE_DEMAND_START
12. Diskpart : quản lý các phân vùng trên ổ cứng.
– /add : để tạo một phân vùng mới
– /delete : xoá một phân vùng.
bạn có thể dùng lệnh seclect để chọn đĩa hoặc phân vùng.

13 Exit : thoát khỏi Recovery Console và khởi động lại máy.
14. Fixboot : tạo một sector khởi động mới trên phân vùng hệ thống
15. Fixmbr : Sửa lại MBR ( Maser Boot Record)
16. Format : định dạng lại đĩa hoặc phân vùng
/q : định dạng nhanh ( quick)
/fs : định dạng kĩ cho phân vùng.
17. Help: liệt kê danh sách các lệnh có trong Recovery Console
18. Listsvc : liệt kê các dịch vụ và trình điều khiển đang chạy.
19. Set : hiển thị và điều chỉnh các biến trong môi trường Recovery Console

Chú ý: nhiều luật đang có hiệu lực khi bạn đang làm việc trong Recovery Console. Dùng set để biết thêm thông tin. Mặc định chúng là
– AllowAllPaths = FALSE : bảo vệ truy cập tới các thư mục nằm ngoài nơi hệ thống được cài đặt, tức nằm ngoài phân vùng bạn chọn khi khởi động Recovery Console
– AllowRemovableMedia=FALSE : bảo vệ truy cập trới các Removeable meida như là nơi để copy file.
– AllowWildCards=FALSE : bảo vệ không được sử dụng dấu * hoặc ? để thay cho các kí tự từ a đến z, 0 đến 8, A đến Z.
– NoCopyPrompt=FALSE: bạn sẽ được yêu cầu xác nhận khi muốn ghi đè một file đã có.

IV. Xoá Recovery Console

Để xoá Recovery Console , bạn vào My Computer, nhấp đúp vào ổ đĩa mà bạn đã cài Recovery Console
Trên menu chọn Tools, chọn Folder Options, chọn Tab View, Chọn hiện file ẩn và hiện file hệ thống
Show hidden files and foldersHide protected operating system files .
Trên ổ đĩa chứa hệ điều hành, xoá thư mục Cmdcons và file cmldr
Cũng tại ổ đĩa chứa HĐH, chuột phải vào boot.ini, chọn properties, xoá dấu tại ô Read-only.
Mở file boot.ini và xoá dòng

C:\cmdcons\bootsect.dat=”Microsoft Windows Recovery Console” /cmdcons

Save lại và khởi động lại máy.

Theo: http://support.microsoft.com/default.aspx?scid=kb;EN-US;q307654

Published in: on January 6, 2009 at 3:09 pm  Leave a Comment  
Tags: ,

Khoi phuc thu muc an khi bi virus

Trong nhiều trường hợp thường là do virus tấn công mà các thư mục ẩn của hệ thống không thể hiển thị ngay cả khi đã kích hoạt tùy chọn “Show hidden files and folders” trong Folder Options. Một số phương pháp sau sẽ giúp xử lý vấn đề này.

1. Sửa đổi trong Registry
– Vào Start/Run gõ lệnh regedit. Tìm đến đường dẫn:
HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\
Advanced\Folder\Hidden\SHOWALL

– Tìm và xóa mục có tên CheckedValue và giá trị là 2.
Tạo một DWORD mới, bằng cách bấm chuột phải lên khung chọn New/DWORD Value, tạo cho nó với cái tên CheckedValue rồi nhập cho nó số giá trị là 1.

2.Chạy mã registry

- Mở Notepad và sao chép đoạn mã này vào Notepad, sau đó lưu tập tin Notepad này vào máy tính với tên là folderoption.reg.
Windows Registry Editor Version 5.00

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\Advanced\Folder\Hidden]

“Text”= “@shell32.dll,-30499”

“Type”=“group”

“Bitmap”=hex(2):25,00,53,00,79,00,73,00,74,00,65,00,6d,00,52,00,6f,00,6f,00,74,0,25,00,5c,00,73,00,79,00,73,00,74,65,00,6d,00,33,00,32,00,5c,00,53,00,\48,00,45,00,4c,00,4c,00,33,00,32,00,2e,00,64,00,6c,00,6c,00,2c,00,34,00,00,0

“HelpID”=“shell.hlp#51131”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\Advanced\Folder\Hidden\NOHIDDEN]

“RegPath”=“Software\\Microsoft\\Windows\\CurrentVersion\\Explorer\\Advanced”

“Text”=“@shell32.dll,-30501”

“Type”=“radio”

“CheckedValue”=dword:00000002

“ValueName”=“Hidden”

“DefaultValue”=dword:00000002

“HkeyRoot”=dword:80000001

“HelpID”=“shell.hlp#51104”

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\Advanced\Folder\Hidden\SHOWALL]

“RegPath”=“Software\\Microsoft\\Windows\\CurrentVersion\\Explorer\\Advanced”

“Text”=“@shell32.dll,-30500”

“Type”=“radio”

“CheckedValue”=dword:00000001

“ValueName”=“Hidden”

“DefaultValue”=dword:00000002

“HkeyRoot”=dword:80000001

“HelpID”=“shell.hlp#51105”

- Đóng Notepad và click đôi chuột vào file mới này. Chọn Yes. Một thông báo xác nhận sẽ hiển thị, click OK. Tiến hành kiểm tra lại việc hiển thị của các thư mục ẩn sau khi thực hiện 2 phương pháp trên.

Theo Tuổi Trẻ Online

Published in: on January 6, 2009 at 3:05 pm  Leave a Comment  

Dau Folder trong Windows XP

Đây là cách dấu dữ liệu không cần phần mềm, chỉ cần Windows XP là đủ. Bạn trước tiên lưu ý rằng cách này chỉ có thể dấu dữ liệu thôi chứ không thể ngăn cản người khác xóa thư mục của bạn đi được, vì vậy tốt nhất vẫn là sử dụng các phần mềm tiện ích.

Trước hết, bạn tạo thư mục cần bảo vệ, lấy tên là Control Panel chẳng hạn, chép hết tất cả các tập tin cần giấu vào đó. Tiếp theo bạn mở Run/cmd chuyển con trỏ tới thư mục mẹ của thư mục vừa tạo. Ta sẽ đổi tên thư mục Control Panel phía trên thành thư mục Control Panel.{21EC2020-3AEA-1069-A2DD-08002B3039D} bằng lệnh

C:\temp>ren "Control Panel" "Control Panel.{21EC2020-3AEA-1069-A2DD-08002B30309D}"

từ nay, khi bạn bấm vào thư mục, nó sẽ dẫn tới Control Panel với Add Hardware, Add or Remove Programs … thay vì dữ liệu của bạn
Để đưa thu mục về trạng thái ban đầu bạn dùng câu lệnh ngược lại

C:\temp>ren "Control Panel.{21EC2020-3AEA-1069-A2DD-08002B30309D}" "Control Panel"

Demo:

Dưới đây là danh sách của một vài thư mục khác mà ta có thể dùng để dấu
Control Panel.{21EC2020-3AEA-1069-A2DD-08002B30309D}

Printers.{2227A280-3AEA-1069-A2DE-08002B30309D}

History.{FF393560-C2A7-11CF-BFF4-444553540000}

Scheduled Tasks.{D6277990-4C6A-11CF-8D87-00AA0060F5BF}

Recycle Bin.{645FF040-5081-101B-9F08-00AA002F954E}

Fonts.{BD84B380-8CA2-1069-AB1D-08000948F534}

Ibox.{00020D75-0000-0000-C000-000000000046}

Network Neighborhood.{208D2C60-3AEA-1069-A2D7-08002B30309D}

Briefcase.{85BBD920-42A0-1069-A2E4-08002B30309D}

Sưu tầm.

Published in: on January 6, 2009 at 3:03 pm  Leave a Comment  
Tags:

Dua hinh vao System Properties

Click the image to open in full size.

Cách làm:

1. Bạn dùng một chương trình đồ họa nào đó (Photoshop, Corel, Photopaint,…) để tạo một ảnh có format là BMP với kích thước là 115 pixels (Height) x 182 pixels (Width) Hoặc nhỏ hơn cũng được. Save hình ảnh này với tên oemlogo.bmp.

2. Dùng trình biên tập text (như NotePad) để đánh nội dung như sau :

[general]
Manufacturer=Tên ban hay công ty tùy ý
Model= Địa chỉ công ty hay địa chỉ nhà bạn, hay nghề nghiệp của bạn

[Support Information]

Line1= Số điện thoại hỗ trợ kỹ thuật
Line2=
Line3= Thời gian làm việc
Line4= Thứ 2-6: 8:00-16:00
Line5=
Line6=

Các dòng chữ in nghiêng là bạn tùy ý điền vào những gì mình muốn thể hiện trên trang General. Riêng nội dung của phần Support Information sẽ chỉ xuất hiện khi bạn click vào nút Support Information. Ở phần này, bạn muốn cho bao nhiêu line cũng được, nhưng nhớ là phải lần lượt theo đúng số thứ tự,từ Line1 trở đi, và các tên Line kèm số thứ tự của chúng phải viết dính liền nhau (Line1). Nếu không, mục Support Information sẽ hỗng có chịu xuất hiện đâu.

Save nội dung này thành file oeminfo.ini

3. Copy hai file oemlogo.bmp và oeminfo.ini mới tạo vào thư mục \WINDOWS\SYSTEM32\ (Nếu sử dụng Windows 98/ME thì bạn phải copy vào thư mục WINDOWS\SYSTEM\)

Bây giờ, bạn vào Control Panel, mở System Properties ra xem.

Theo: vndownload.org

Published in: on January 6, 2009 at 2:21 pm  Leave a Comment  
Tags:
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.