Dac diem sinh hoc Penaeus vannamei

Đặc điểm sinh học và sinh thái của tôm thẻ chân trắng – Penaeus vannamei

  •  

PHÂN LOÀI

Tôm thẻ chân trắng (Tên tiếng Anh:  White Leg shrimp ) được định loại là:

Ngành: Arthropoda

Lớp: Crustacea

Bộ: Decapoda

Họ chung: Penaeidea

Họ: Penaeus Fabricius

Giống: Penaeus

Loài: Penaeus vannamei

PHÂN BỐ

Châu Mỹ La Tinh, Hawaii, hiện nay được nuôi ở rất nhiều nước trên thế giới như: Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam…

 

CẤU TẠO VÀ ĐIỀU KIỆN SINH THÁI

Cũng như các loài tôm cùng họ Penaeid, tôm chân trắng cái ký thác hoặc rải trứng ra thay vì mang trứng tới khi trứng nở. Chủy tôm này có 2 răng cưa ở bụng và 8-9 răng cưa ở lưng. Tôm nhỏ lúc thay vỏ cần vài giờ để vỏ cứng nhưng khi tôm đã lớn thì cần khoảng 1-2 ngày.

Tôm chân trắng không cần đồ ăn có lượng protein con như tôm sú, 35% protein được coi như là thích hợp hơn cả, trong đó đồ ăn có thêm mực tươi rất được tôm ưa chuộng.

Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng biển có độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26-28 độ C, độ mặn khá cao (35 phần ngàn). Trứng nở ra ấu trùng và vẫn loan quanh ở khu vực sâu này. Tới giai đoạn Potlarvae, chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn. Nơi đây điều kiện môi trường rất khác biệt: đồ ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn … Sau 1 vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm chọn chu kỳ.

Tôm chân trắng lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng trưởng 3g với mật độ 100con/m2 tại Hawaii không kém gì tôm sú, sau khi đã đạt được 20g tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1g/tuần, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực.

Nếu nuôi tôm mẹ thì nên tạo nhiệt độ nước ít thay đổi (27 độ C), nước cần phải lọc bằng than nhằm mục đích loại bỏ tất cả những chất hữu cơ hòa tan trong nước. Tôm sinh đẻ nên chọn những con nặng ít nhất 40gr. Những tôm đực mà nơi bộ phận mang tinh trùng bị xám đen thì nên tránh.

Tài liệu tham khảo:                    

http://www.seafoodhandbook.com/shellfish/shell22.html

“Cải tiến kĩ thật nuôi tôm tại Việt nam” (Vũ Thế Trụ – Nhà xuất bản Nông nghiệp – 2000)


Tôm chân trắng rất được giá tại thị trường Hoa Kỳ và các đặc tính sau đây:

– Người Hoa Kỳ thích loại tôm trắng hơn các loại đen, nâu, xanh …

– Tôm chân trắng kháng bệnh mạnh hơn các loại tôm khác.

– Tôm chân trắng lớn nhanh hơn cả.

Tôm chân trắng chịu được sự thay đổi điều kiện môi trường hơn.

Cũng như các loài tôm cùng họ , tôm chân trắng cái ký thác hoặc rải trứng ra thay vì mang trứng tới khi trứng nở. Chủy tôm này có 2 răng cưa ở bụng và 8-9 răng cưa ở lưng. Tôm nhỏ lúc thay vỏ cần vài giờ để vỏ cứng nhưng khi tôm đã lớn thì cần khoảng 1-2 ngày.

Một điều chưa giải thích được là tôm chân trắng nuôi trong nước ao lớn mau (50%) hơn là nuôi trong nước giếng đã được khử trùng, có lẽ nhờ ảnh hưởng của cộng đồng vi sinh vật trong nước ao theo kết quả khảo cứu của Viện hải dương học Hawaii.

Tôm chân trắng không cần đồ ăn có lượng protein con như tôm sú, 35% protein được coi như là thích hợp hơn cả, trong đó đồ ăn có thêm mực tươi rất được tôm ưa chuộng.

Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng biển có độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26-28 độ C, độ mặn khá cao (35 phần ngàn). Trứng nở ra ấu trùng và vẫn loan quanh ở khu vực sâu này. Tới giai đoạn Potlarvae, chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn. Nơi đây điều kiện môi trường rất khác biệt: đồ ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt độ cao hơn … Sau 1 vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm chọn chu kỳ.

Tôm chân trắng lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng trưởng 3g với mật độ 100con/m2 tại Hawaii không kém gì tôm sú, sau khi đã đạt được 20g tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1g/tuần, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực.

Nếu nuôi tôm mẹ thì nên tạo nhiệt độ nước ít thay đổi (27 độ C), nước cần phải lọc bằng than nhằm mục đích loại bỏ tất cả những chất hữu cơ hòa tan trong nước. Tôm sinh đẻ nên chọn những con nặng ít nhất 40gr. Những tôm đực mà nơi bộ phận mang tinh trùng bị xám đen thì nên tránh.

Chuẩn bị ao hồ tôm ương cũng như tôm thịt: Đào ao, phơi nắng, bón vôi, bón phân thả tôm con …

Mật độ nuôi tôm chân trắng.

Tùy theo trình độ kỹ thuật và phương tiện, người ta ấn định mật độ, tại Hawaii mật độ cho năng suất cao hơn cả là 75con/m2. Cách nuôi giống như nuôi tôm sú

Năng suất tại viện Hải dương học Hawaii đã đạt tới 44 tấn/ha/năm và dựa vào các điều kiện được giữ liên tục trong suốt vụ như sau.

Oxygen hòa tan    8ppm

Đĩa Secchi            55cm

Nhiệt độ                28 C

pH                        8

Thay nước hàng ngày: Để đảm bảo môi trường nước thật trong sạch, nước được thay đổi hàng ngày đều đặn. Những ngày đầu thay 10% lượng nước mỗi ngày, sau đó tăng dần tới 80% hay hơn nữa để đáp ứng với sự gia tăng đồ ăn cũng như trọng lượng tôm trong ao.

Theo quyển “Cải tiến kĩ thật nuôi tôm tại Việt nam” – (Vũ Thế Trụ – Nhà xuất bản Nông nghiệp – 2000)


Các tài liệu khác:

http://mexicanfood.about.com/library/weekly/aa050201a.htm

West Coast white shrimp (P. vannamei): Sometimes referred to as the white-leg shrimp, this species is found on the Pacific side of Central and South America, but are intensively farmed in Ecuador and Central America. This species accounts for a large volume of the white shrimp in the U.S. marketplace.

 http://www.nhandan.org.vn/english/20010709/bai-eco1.html

Bac Lieu farms white-leg shrimps

The Duyen Hai Company in Bac Lieu province was allowed to import one million white-leg shrimp fries from Taiwan for experimental breeding by the Ministry of Fisheries.

After farming for three months at a density of 14 shrimps per square metre, the company harvested nearly 11 tonnes of shrimps. The company’s report stated that the survival rate of these shrimps is 70%.

The success means new business opportunities for shrimp farmers in Bac Lieu and other provinces in the Mekong Delta since the price for export of each kilogram of white leg shrimp is between US $10 and US $30. The product is popular among customers in the United States and other countries.

The company is asking for permission from the ministry to import another 10 million shrimp fries for the next farming season and 900 male and female white leg shrimps for breeding.

http://www.vietlinh.com.vn/forum/tl_khac.html

Tôm chân trắng là loài tôm thuộc họ tôm thẻ, có nguồn gốc và phát triển mạnh ở Mỹ và các nước nam Mỹ. Đài Loan là nước Châu Á đầu tiên du nhập và nuôi thành công làoi tôm này.

Hiện nay ngành nuôi tôm Việt Nam cũng đang có dầu hiệu rất khả quan về sản lượng thu được từ tôm chân trắng.

Tên Khoa học: Penaeus vannamei

Tên tiếng Anh: White leg shrimp

Đặc điểm: ít bị cảm nhiễm bệnh tất hơn tôm sú, chu kì nuôi ngắn ngày (so với tôm Sú), giá cả ổn định trên thế giới

http://www.seafoodhandbook.com/shellfish/shell22.html

Shrimp, Pacific white

Scientific names: Penaeus vannamei; P. stylirostris
Market name: Shrimp
Common names: White-leg, Mexican white, Pacific white, Ecuadoran white (vannamei); blue shrimp, steelies (stylirostris)

The Pacific White Shrimp Story
Pacific white shrimp are among the most widely cultivated shrimp in the world. This is due mainly to ease of cultivation and rapid growth rate; harvesting begins after 120 days.

The two warmwater species known as Pacific whites are Penaeus vannamei, found from Sonora, Mexico, to northern Peru, and P. stylirostris, which ranges from Baja California to Peru. Both are also harvested from the wild by trawlers, though the volume of farmed is considerably greater than trawl-caught supplies – especially vannamei from Ecuador. In the United States, Pacific whites are farmed in Texas and South Carolina.

Similar to Gulf white shrimp, both of these Pacific species can reach about 9 inches. IQF and block-frozen whole shrimp are becoming more popular as farmers look to pass processing costs on to end-users.

Quality of pond-raised Pacific white shrimp is normally high, owing to strict controls and the lack of at-sea time that accompanies shrimp harvested from the wild.

Product Profile

Pacific white shrimp is firm, sweet and mild. The stylirostris is a bit more salty than the vannamei species. Though it may be difficult to tell them from Gulf whites, if you look closely, you’ll see that P. vannamei are creamy white, while Gulf whites are grayish-white. The stylirostris are often white with a greenish or bluish tint. Raw meat of both species is white but turns whitish pink when cooked.

Peeled shrimp are usually dipped in phosphates to minimize drip loss. It’s a standard practice, as long as the product isn’t oversoaked, and should be stated on the label. Thawed shrimp that feels “soapy” has been soaked too long and has absorbed excess water.

GLOBAL SUPPLY:

Belize, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Honduras, Mexico, Nicaragua, Panama, Peru, United States

http://www.nmfs.noaa.gov/sfweb/sk/saltonstallken/penaeus.htm

GRANT NUMBER: NA67FD0030           NMFS NUMBER: 95-SER-009

REPORT TITLE:  Sustainable Aquaculture and Stock Enhancement for the Native White Shrimp, Penaeus setiferus

AUTHOR: Stephen Hopkins and David Whitaker

PUBLISH DATE:  October 1, 1998

AVAILABLE FROM:  National Marine Fisheries Service, Southeast Region, 9721 Executive Center Drive, St. Petersburg, Fl 33702.  TELEPHONE: (727) 570-5324

ABSTRACT

The sustainable shrimp aquaculture technologydevelopment efforts were designed to reduce the potential for adverse impacts of shrimp aquaculture on the environment and wild shrimp stocks. The approach is to develop techniques for production of the native white shrimp, Penaeus setiferus, which will achieve growth and production rates comparable to the Pacific coast white shrimp, Penaeus vannamei.  Penaeus vannamei has become the species of choice for commercial shrimp farmers in the United States due to its rapid growth on available feeds and the availability of high health supplies of postlarvae for stocking growout ponds.  However, there are increasing problems with the health status of these seed and seed supply continues to constrain the industry.  Another concern associated with the farming of the non-native Penaeus vannamei relates to the inherent potential for escapement.  Some fear that the Pacific coast shrimp may become established along the Atlantic coast or that it will naturally hybridize with native shrimp.  Both naturalization and hybridization could disrupt the coastal ecosystem. The mainstay of the shrimp fishery in South Carolina is white shrimp, Penaeus setiferus. White shrimp spawn in near-shore waters in the spring. The coastal marshes provide nursery habitat through the summer months and the large shrimp move out of the estuaries in the fall.  A portion of the population remains in the deeper sections of the sounds and bays through the winter and become the spawning stock which begin the cycle anew the following spring. However, South Carolina is at the northern extreme of the range of this species and in an unusually cold winter these overwintering shrimp are killed by low water temperatures. The loss of these spawners results in reduced recruitment and a smaller than normal population of young-of-the-year.   Because Penaeus setiferus is an important species with respect to commercial and recreational harvest, not to mention its role in the coastal ecosystem, anthropologic management measures which mitigate the loss of overwintering stock to low temperatures may have a far-reaching effect.

Published in: on January 21, 2008 at 2:04 pm  Leave a Comment  

The URI to TrackBack this entry is: https://namctu.wordpress.com/2008/01/21/dac-diem-sinh-hoc-penaeus-vannamei/trackback/

RSS feed for comments on this post.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: