Ky thuat nuoi luon

I. Đặc điểm sinh học của lươn

– Lươn thích sống chui rúc trong bùn, kể cả bùn thối, bẩn, thiếu oxy và có thể đào hang trong đất. Tùy chất đất mà đào hang hoặc không, đất ưa thích là sét pha thịt.

– Lươn là loài ăn tạp thiên về động vật như ốc, cá, tép, tôm… Khi nhỏ lươn ăn sinh vật phù du, côn trùng, lúc thiếu thức ăn lươn ăn cả rau, bèo, mảnh vụn thực vật và lúc đói lươn có thể sát hại lẫn nhau.

– Nhiệt độ thích hợp là 15 – 300C, thích hợp nhất 24 – 280C, khi nhiệt độ lớn hơn 320C lươn sẽ tiết ra nhiều nhớt và có thể bị chết nóng. Nhưng ngược lại lươn có thể chịu được khi nhiệt độ dưới 00C .

– Lươn hoạt động mạnh về ban đêm, không ưa ánh sáng mạnh. Lưu ý những ngày trời mưa có nhiều sấm sét, lươn có thể bỏ đi hàng loạt theo dòng nước mới chảy vào ao. Nên khi làm bể nuôi cần phải cao hơn 2/3 chiều cao của lươn.

– Kích cỡ ảnh hưởng đến giới tính:

+ Chiều dài < 26cm đều là lươn cái.

+ Chiều dài 26 – 54cm có thể là cái đực hoặc lưỡng tính.

+ Chiều dài > 54cm đều là lươn đực.

– Sinh sản:

Lươn có hiện tượng lưỡng tính (đực, cái trên cùng một cơ thể). Ngoài Bắc, tháng 2 – 5 âm lịch là mùa lươn đẻ. Đẻ một lần trong năm với số lượng trúng khoảng 200-500 trứng/con. Thường đẻ ở bờ ruộng, bờ ao, mương có đất sét pha thịt. Trước mùa đẻ lươn đực làm tổ và canh giữ cho lươn cái đẻ trứng. Khi đẻ lươn đực phun đầy bọt vào tổ sau đó lươn cái vào đẻ trứng. Đẻ rộ lúc nhiệt độ 25-260C, nhất là sau những trận mưa, đẻ vào lúc sáng sớm. Toàn bộ quá trình lươn làm tổ đến khi thành lươn con hết gần 1 tháng.

II. Kỹ thuật nuôi lươn trong bể

1. Điều kiện nuôi

– Chủ động nguồn nước.

– Nơi đất thấp, có độ ẩm cao, không bị ngập lụt, nắng hạn.

– Ít bị ánh nắng trực tiếp chiếu vào.

2. Xây dựng bể nuôi

Diện tích tùy theo điều kiện, có thể 4-100m2, chiều cao khoảng 1m, bể nuôi cần có cống cấp, thoát nước riêng biệt.

Bể nuôi có thể là bể xây bằng xi măng, bể bạt (dùng bạt nilon lót đáy, căng 4 góc) hoặc đào đất đắp bờ tạo bồn nuôi.

2.1 Nuôi lươn trong bể có đất

– Chọn đất: Loại đất sét pha thịt, ít nhiễm phèn. Đáy bể tạo một lớp bùn đáy khoảng 20 – 30cm và độn thêm rơm, cỏ cây, chuối mục, nilon bó thành chùm tạo nơi trú ẩn.

– Tạo nơi trú ẩn bằng 3 cách: ở giữa bồn tạo thành gò đất; Đắp mô giữa, mương 4 phía; Đắp mô một bên, mương một bên.

Xử lý bằng vôi bột 1kg/10m2.

– Trên mô đất trồng các cây cỏ thủy sinh và thả thêm bèo lục bình, rau muống.

– Lấy nước vào khoảng 10-15cm sau 10-15 ngày tiến hành thả giống.

2.2 Nuôi lươn trong bể không cần đất

– Cho nước vào bể nuôi từ 35-40cm và thả giá thể bằng dây nilon làm chổ cho lươn trú ẩn. Cách làm giá thể: dây nilon đen cắt thành đoạn 1m, gấp đôi và buộc lại thành chùm cột vào thanh tre gác ngang bể nuôi, thả cách mặt đáy 5-8cm.

3. Chọn lươn giống

Lươn phải đồng đều cỡ từ 50-80 con/1kg, khỏe mạnh, không sây sát. Đặc biệt không ăn mồi thuốc, không bị xiệt điện, không bị mất nhớt, không đỏ bụng, đỏ rốn, hoạt động nhanh nhẹn.

4. Xử lý và thả lươn nuôi

– Tắm lươn qua nước muối 3-4g/lít nước trong thời gian 4-5 phút.

– Mật độ thả: Bể đất: 20-40con/m2; Bể không đất: 50-80con/m2.

– Thời gian thả: Lươn thịt: tháng 4-5, Lươn đẻ: tháng 12 âm lịch.

5. Cách cho ăn

Lươn có tính ăn rất khó chịu, chúng có thể nhịn đói dài ngày và có thể nhịn ăn cho đến chết nếu mồi ăn thay đổi đột ngột. Nên khi thay đổi thức ăn cho lươn cần phải thận trọng.

Khi mới thả bỏ đói lươn 2, 3 ngày mới bắt đầu cho ăn. Cho ăn thức ăn tươi sống như ốc, tép, cá… Thức ăn cần băm nhỏ vừa cỡ miệng. Lượng thức ăn tháng đầu: 2-3% trọng lượng thân, tháng thứ hai: 4-6% trọng lượng thân, tháng thứ 3 đến thu hoạch là 7-10% trọng lượng thân. Thời gian cho ăn 3 lần/ngày vào 5-6 giờ, 17-18h và 21-22h. Vị trí đặt sàng ăn vào 4 góc bể cho lươn ăn.

6. Chăm sóc và quản lý

Hằng ngày theo dõi khả năng bắt mồi của lươn. Định kỳ 2-3 ngày thay nước và hàng tháng vệ sinh bể 1 lần. Những ngày mưa, nắng to cần che chắn bể. Chống các loài mèo, chuột, ếch nhái… vào bắt lươn. Định kỳ 7 ngày trộn Vitamin C vào thức ăn, đồng thời dùng các chế phẩm sinh học như Zeolit, bột Yucca để xử lý môi trường nuôi.

7. Trị bệnh

7.1 Bệnh sốt nóng

– Dấu hiệu: tiết nhiều dịch nhầy, độ nhớt nước tăng lên, đầu sưng to và có thể chết.

– Trị bệnh: dùng dung dịch Sulphate đồng 0.07%, tưới 5ml/m2 nước.

7.2 Bệnh lở loét

– Dấu hiệu: xuất hiện nhiều vết tròn hay hình bầu dục, da bị lở loét còn gọi là bệnh đóng dấu, nếu bị nặng đuôi lươn bị rụng đi, bơi lội khó khăn, lươn ngóc đầu khỏi mặt nước. Bệnh thường xảy ra vào tháng 5-9.

– Phòng trị: dùng 0.5g SulFamidine/50kg lươn/ngày. Thuốc trộn vào thức ăn cho ăn 5-7 ngày. Trực tiếp bôi Potassium permanganate (thuốc tím) vào vết loét.

8. Thu hoạch

Sau khi nuôi 6-8 tháng có thể thu hoạch tùy thị trường tiêu thụ và có thể thu lươn to trước, lươn nhỏ thu sau hoặc giữ lại nuôi vụ sau.

Theo http://nhanong.net

Published in: on November 30, 2008 at 3:08 am  Leave a Comment  
Tags:

The URI to TrackBack this entry is: https://namctu.wordpress.com/2008/11/30/ky-thuat-nuoi-luon/trackback/

RSS feed for comments on this post.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: